Bối cảnh địa văn Hạ Long - Yếu tố thăng hoa nghệ thuật hát giao duyên vùng biển Quảng Ninh

So với nhiều vùng biển khác, Quảng Ninh may mắn còn lưu giữ khá đầy đủ và tinh tế nghệ thuật hát giao duyên trên biển.

Sau mỗi canh hát đúm, hát chèo đường, hát đám cưới, hò biển... say đắm và tình tứ do những người dân vạn chài thể hiện, khách yêu nhạc, yêu thơ hẳn sẽ ngẩn ngơ, luyến tiếc, hẳn sẽ tâm niệm hơn một lần tìm lại chốn xưa để được nghe, được xem, được thấm từng ca từ, làn điệu hát giao duyên trên biển Quảng Ninh. Rất nhiều các nhà nghiên cứu đã khẳng định hát giao duyên trên biển, nhất là vùng Vịnh Hạ Long là những khúc hát say đắm, tình tứ nhất, ở đó biểu hiện đầy đủ các cung bậc cảm xúc, cung bậc tình yêu. Và yếu tố tạo nên sức hút này chính là không gian, thời gian, đặc trưng phương thức lao động, sinh hoạt trên biển, cùng có nghĩa là bối cảnh địa văn vùng Vịnh Hạ Long.

Bối cảnh địa văn Hạ Long - Yếu tố thăng hoa nghệ thuật hát giao duyên vùng biển Quảng Ninh ảnh 1
Bối cảnh địa văn Vịnh Hạ Long khiến cho hát giao duyên trên biển trở nên say đắm, tình tứ và hấp dẫn.

Vịnh Hạ Long với đặc điểm biển ăn sâu vào đất liền, bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm, đảo núi xen kẽ giữa các vùng cát mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng rất tương phản nhau. Với 1.969 đảo, trong đó có gần 900 đảo có tên, hầu hết các đảo nhỏ qua quá trình phong hoá bởi mưa nắng và sóng biển bào mòn đã tạo nên các hang động nhỏ, các hườm đá. Đây chính là nơi trú ngụ an toàn cho các tàu thuyền trên vịnh trong mọi điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Mặt khác khí hậu vùng Vịnh Hạ Long tương đối ôn hoà, nhiệt độ không thay đổi nhiều giữa các mùa, biên độ thuỷ triều lớn nhưng vịnh lại không có sóng. Sự hình thành rừng đảo đá trong vịnh khiến cho Hạ Long trở thành những ao chuôm khổng lồ, là nơi sinh sống ổn định của hàng ngàn loài tôm cá. Lượng hải sản to lớn này ngày càng được nuôi dưỡng và phát triển nhờ vô vàn phù du từ các cửa sông đổ ra vịnh.

Chính những điều kiện địa lý thuận lợi, lý tưởng trên, từ bao đời nay đã góp phần hình thành nên cộng đồng ngư dân sống lênh đênh trên biển, cả đời người hầu như gắn với biển, đó là dân chài thuỷ cư chuyên sống bằng nghề đánh bắt hải sản. Đối với họ, nhà cửa chính là con thuyền, quê hương là cả vùng vịnh bao la. Thuyền - ngôi nhà của người dân chài Hạ Long cũng có ''phòng khách'' là khoang giữa, nơi có ban thờ, là nơi chủ thuyền, con cái còn nhỏ cùng bố mẹ già ngủ. Khoang sau là nhà bếp để nấu nướng, còn lại khoang mui là phòng làm việc, nhà kho để ngư cụ của người dân chài.

Nếu như những gia đình ngư dân vùng biển Thanh Hoá, Nghệ An hay phía Nam chỉ có người chồng hoặc người đàn ông ra biển còn vợ con ở nhà thì những gia đình ngư dân Hạ Long tất cả mọi thành viên đều ra khơi, thậm chí nếu có nhà trên bờ họ cũng đóng cửa để đấy và xuống thuyền. Tất cả thành viên trong gia đình đều có thể lao động. Trẻ nhỏ có thể mắc mồi thả câu, lớn lên một chút có thể chèo mui, kéo lưới, còn khi trưởng thành, lấy vợ lấy chồng thì sẽ vừa chèo vừa giăng lưới, thả câu vừa dạy bảo con em thao tác đánh bắt tôm cá...
Những điều kiện ấy đã khiến người dân chài sống quần tụ với nhau và gắn với biển cả. Mọi hoạt động làm ăn, sinh sống, sinh hoạt văn hoá tinh thần cả cuộc đời họ, từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt xuôi tay đều diễn ra trên môi trường sông nước. Cũng từ đây, nghệ thuật hát giao duyên trên sông nước được xây dựng, gìn giữ và phát triển gắn liền với sự tồn tại từ đời này sang đời khác của các vạn chài. Nghệ thuật biểu diễn truyền thống ấy ngày càng được chắt lọc tinh tế và thăng hoa hơn, khi mỗi gia đình, mỗi con người dân chài được ví như một chiếc thuyền lênh đênh trên biển, trên sông nước mênh mông, thì tất nhiên phương tiện để gặp gỡ, giao lưu kết bạn hiệu quả nhất là các điệu hát, các ca từ tình tứ. Hát giao duyên càng gắn bó, thân thiết với đời sống người dân chài khi trai gái những thế hệ sau này chỉ quen nhau, thân thiết với nhau, nên vợ nên chồng với nhau qua giọng hò câu hát. Lúc này hát giao duyên trở thành phương tiện giao lưu, thành nhu cầu tình cảm với đủ các cung bậc tình yêu, từ kín đáo, đến duyên dáng, chân tình, thuỷ chung, lại có cả ghen tuông, giận hờn, chua ngoa...

Bối cảnh hát giao duyên càng đặc biệt lãng mạn hơn trong những đêm thanh vắng, chèo thuyền một mình, quãng đường dài... người dân chài buông những lời hò tự sự, vừa là đánh tiếng vừa cho đỡ buồn, đỡ đơn độc rằng có tôi ở đây, thậm chí cho đỡ buồn ngủ. Tiếng hò vang ngân dài ẩn giấu lời tỏ tình bóng bẩy. Có một lão ngư vùng vạn chài Thắng Lợi đã kể câu chuyện về một anh chàng đi bán cá song, loài cá có sức sống rất khoẻ, mải mê cất giọng đối đáp các điệu hát hò biển với chị đi bắt ngán qua mấy ngày đêm, đến nỗi cá chết hết cả.

Anh chàng gần sạt nghiệp song cuối cùng cô gái bắt ngán ấy đã đồng ý về làm vợ anh. Câu chuyện có vẻ đã được ''thêm mắm thêm muối'' song qua đây cho thấy vị trí, sức hút, sức sống của nghệ thuật hát giao duyên đối với đời sống văn hoá tinh thần của người dân biển. Qua đây càng góp phần khẳng định bối cảnh địa văn Vịnh Hạ Long hay nói cách khác không gian, thời gian, đặc trưng sống trên biển đã khiến cho hát giao duyên trên biển trở nên say đắm, tình tứ và hấp dẫn nhất.

Cùng chuyên mục