Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng người đều có một nền văn hoá dân gian mang giá trị đặc trưng. Riêng ở Quảng Ninh, có một cộng đồng khá đặc biệt, thuộc dân tộc Kinh mà văn hoá không giống các vùng người Kinh. Họ cũng không phải người thiểu số mà lại có những nét khá tương đồng với dân tộc thiểu số. Họ có một đời sống văn hoá hoà quyện với thiên nhiên, ánh xạ vào ca dao - dân ca, tạo nên giá trị vô giá về nhiều mặt, rất cần được nghiên cứu, đánh giá, bảo tồn và phát huy… Đó chính là cộng đồng những người dân chài đời nối đời sống lênh đênh trên thuyền giữa vùng biển đảo kỳ diệu - Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Vùng văn hoá dân gian đặc sắc này bao gồm nhiều giá trị. Những phong tục tập quán, những tín ngưỡng, kiêng hèm, lễ hội, lễ tết và những kinh nghiệm làm nghề… Đáng chú ý là kho tàng ngôn ngữ qua những sáng tác dân gian phong phú như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, những làn điệu dân ca hay cả về lời, giai điệu và tiết tấu… Từ kho tàng văn học dân gian đủ thể loại này, ta không chỉ thấy cuộc sống lao động và tình yêu nam nữ nơi mênh mang non xanh nước biếc, nơi đầu sóng ngọn gió mà còn thấy những phẩm chất, tính cách của một giai tầng nghèo khổ nhưng vô cùng hồn nhiên hoà mình với sông nước mênh mang, với nghề chài lưới từ muôn đời.
Tôi đọc thấy những giá trị ấy vẫn lặng lẽ mờ khuất trong sương khói, nơi góc biển chân trời. Loáng thoáng đây đó trong vài dòng sách cổ mang tính địa chí, ta gặp những nhận xét chưa mấy thiện cảm: “Đất nhiều cá muối, dân xu lợi…” hoặc “…ưa mạnh tợn, ít văn học”. Những nhận xét đó không sai nhưng rất cần được lý giải và hơn thế cần được nhìn nhận một cách thấu đáo và toàn diện. Ngoài những trở ngại xa xôi, vượt qua núi cao biển rộng, một phần còn do nơi này xưa không mấy yên ổn bởi thổ phỉ, hải phỉ hoành hành, không kể đây là đường tiến quân xâm lược của liên tiếp các triều đại phong kiến phương Bắc. Đất nước mình xưa vốn đã hiếm các nhà nghiên cứu thì nơi xa lạ với ánh sáng học vấn này lại càng ít được biết đến. Rồi chiến tranh tiếp nối chiến tranh, cộng thêm đó là sự mai một theo thời gian, những giá trị văn hoá dân gian vốn không ầm ĩ, sặc sỡ này cứ thế chìm vào quên lãng.
Như vậy, đã từ lâu tiếng hát của người dân chài Hạ Long đã được truyền tụng trên sông nước, lưu giữ trong tâm hồn mình trên một con thuyền, một khúc sông… Có lẽ trên giấy trắng mực đen, được viết sớm nhất một cách rõ ràng và chính xác, tuy là vắn tắt, tiếng hát đối đáp, nhất là tục hát cưới của người dân biển đảo này là ở trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, bộ Sử - Địa chí của Triều Nguyễn (xem mục Phong tục chương XVIII - tỉnh Quảng Yên, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch của Viện Sử học, NXB KHXH.HN.1971, tr13,14). Hay trên báo Nam Phong xuất bản năm 1924, trong bài ghi chép về chuyến “Du lịch Vịnh Hạ Long” của nhà sưu tầm Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến đã chép lại lời “Bài ca dặm đò” từ ông lái thuyền.
Hiện nay, Hội Văn nghệ dân gian Quảng Ninh đang thực hiện cuốn sách “Ca dao dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ Long”. Hy vọng công trình này sẽ góp một phần lấp đi khoảng trống đáng tiếc đó và giữ lại những gì đáng có trong các sách giới thiệu kho tàng văn hoá dân gian của dân tộc ta. Ca dao và dân ca vốn là những loại hình văn học nghệ thuật khăng khít với nhau, quen thuộc nhất và cũng khá phổ biến trong đời sống người dân chài.
Tống Khắc Hài (CTV)