Đó là câu chuyện tôi muốn kể về cha con hoạ sĩ Lê Chuyền, phần nhiều qua ký ức một người bạn nghề của ông, hoạ sĩ Trần Công Phú. Những ngày cuối tháng 11 âm lịch vừa qua cũng gắn với ngày ông đã đi xa chúng ta cách đây 6 năm...
Hoạ sĩ Lê Chuyền là một trong những hoạ sĩ của Vùng mỏ trưởng thành từ lớp mỹ thuật công nhân do họa sĩ Hoàng Công Luận trực tiếp giảng dạy. Ông từng làm công tác thông tin tuyên truyền ở Yên Hưng rồi chuyển ra TX Hòn Gai làm công tác phát hành sách (Sở Văn hoá Quảng Ninh). Cũng từ công việc này, ông có điều kiện để tìm kiếm tài liệu mỹ thuật để tự mình học hỏi thêm và sau đó, khi làm công tác thi đua ở Xí nghiệp Bến Hòn Gai, ông đã thi đỗ vào lớp Cao đẳng tại chức Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, cùng thời với nhiều hoạ sĩ nổi tiếng sau này như Trần Khánh Chương, Nghiêm Hùng v.v... Đánh giá về tranh của Lê Chuyền, hoạ sĩ Trần Công Phú nhận xét: "Xu hướng chung của hoạ sĩ Lê Chuyền là vẽ tả thực chứ không đi vào những trường phái rối rắm, tác phẩm của anh thường được dựng trên ký hoạ rất kỹ. Vì am hiểu sâu về máy móc và công việc của người công nhân nên anh vẽ họ rất đạt, rất giỏi, từ chiếc máy xúc đến mỗi toa xe... Anh có cách dùng màu sắc rất tươi mát, ngôn ngữ nghệ thuật rành mạch, rõ ràng. Vậy nên, nhìn tranh Lê Chuyền ta cảm thấy rất yêu đời, cảm giác như tranh hội hè ấy; anh không đi vào những góc tối, cũng không phải suy nghĩ gì nhiều vì đã qua chọn lọc rồi, anh chỉ tăng cường độ lên một chút...". Bức tranh bột màu đầu tiên gây ấn tượng của hoạ sĩ Lê Chuyền là Nắng Hòn Gai từng đoạt giải thưởng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, sau được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Bên cạnh đó còn phải kể đến mảng tranh cổ động rất phong phú, từng được nhiều giải thưởng ở tỉnh của ông. "Nhìn vào đó là thấy công sức của hoạ sĩ Lê Chuyền, bởi Xí nghiệp Bến Hòn Gai lúc ấy rất lớn" - Hoạ sĩ Trần Công Phú nhấn mạnh. Dù vậy, ông cũng là hoạ sĩ có ít giải thưởng cao, bởi ưu điểm của tranh Lê Chuyền hình như cũng chính là nhược điểm. Theo bạn ông lý giải thì đó là việc nâng tầm, đi sâu, khái quát chưa tới, tranh đẹp nhưng chưa sâu, chưa đi hết, tả hết hiện thực ấy. Tả hiện thực mà chưa nói được đằng sau đó là gì. "Có duy nhất một bức anh tự làm mới mình là tranh Hạ Long từng tham gia triển lãm toàn quốc. Anh vẽ theo lối trừu tượng, không có thuyền, buồm, không có nước chỉ có các mảng khối nhưng vẫn đẹp, vẫn ra Hạ Long" - Hoạ sĩ Trần Công Phú nhớ lại. Bức tranh ấy được mua ngay sau triển lãm và hoạ sĩ Lê Chuyền cũng không bao giờ vẽ thêm một lần nào nữa theo lối ấy. Ông lại trở về với thứ nghệ thuật rất hiền lành quen thuộc của mình, thứ nghệ thuật hiện thực, không đao to, búa lớn vốn cũng là phổ biến và rất được coi trọng của mỹ thuật Quảng Ninh những năm 70, 80. Không giống với cha mình, hai con trai của hoạ sĩ Lê Chuyền là Lê Minh và Lê Hoàng Nguyên, dù theo đuổi nghệ thuật nhưng đã có những hướng đi rất khác biệt. Lê Minh vẽ nhiều tranh ở chất liệu sơn dầu giống như cha mình nhưng gây ấn tượng cho người xem bằng những mảng màu sáng với bố cục khá rõ ràng và gọn ghẽ. Giới chuyên môn từng đánh giá tranh của anh là sự tổng hoà các yếu tố văn hoá và tôn giáo, vì thế, nhân vật trong tác phẩm dường như không có tuổi tác, như nằm ngoài không gian của cuộc sống đời thường... Được xem là một trong những hoạ sĩ trẻ thành đạt hơn cả phải nói đến con trai út của ông là Lê Hoàng Nguyên. Nếu như Lê Chuyền thiên về đề tài lao động sản xuất hiện đại thì Lê Hoàng Nguyên lại chỉ khai thác nội dung tư tưởng liên quan đến văn hoá Việt truyền thống, xoay quanh cuộc sống bình dị những năm 20, 30, 40 hoặc đi theo đề tài tâm linh chùa, thiền, phật giáo. Không có máy móc và người công nhân, tranh của anh đánh vào thị hiếu khách nước ngoài ưa tìm hiểu văn hoá cổ với những cô gái tóc bồng, vấn khăn, những ông già, trẻ con có phục trang kiểu cũ, chân dung một vài phụ nữ đang ngồi nói chuyện, xa xa là phong cảnh làng quê, rồi các nhà sư hành khất, tụng kinh... Nhưng quan trọng hơn là dù đề tài đơn giản nhưng chiều sâu tâm trạng của nhân vật được Lê Hoàng Nguyên rất chú trọng và có nhiều thành công. Tranh của anh khiến người xem như cảm thấy tĩnh tâm và trầm mặc hơn. "Nguyên vẽ cảm nhận được nhà sư rất vô thường, một cô gái ngồi cũng cảm thấy con người bị trói buộc bởi nhiều thứ, không vươn lên được..." - Hoạ sĩ Trần Công Phú đánh giá. Không giống như cha mình, Hoàng Nguyên đã sớm có những giải thưởng quan trọng, góp phần giúp anh đứng được ở thị trường tranh Hà Nội. Đó là giải nhất Triển lãm Mỹ thuật Sinh viên toàn quốc lần thứ nhất năm 1992, rồi Triển lãm Asian Fine Art năm 1997. Đặc biệt, bức "Con đường tri thức" của anh, với ý nghĩa sâu sắc cũng như một kỹ thuật hoàn hảo, từng đoạt Giải thưởng Mỹ thuật Asean do Tập đoàn các Công ty Philip Morris tài trợ năm 1997 v.v... Đi sâu vào dòng tranh sơn mài với kỹ thuật riêng được đánh giá rất cao, Lê Hoàng Nguyên đã khẳng định được bản lĩnh của mình để sống được bằng nghề. Hoạ sĩ Trần Công Phú khen ngợi: "Tranh sơn mài không tả thực, không tả khối, tả bóng, tả chi tiết nhưng Nguyên làm ngược lại, tả con người thực, ánh sáng thực, khối nổi ở người, chân dung, đồ vật rất kỹ. Với kỹ thuật sơn mài, Nguyên tả thực rất sâu cả không gian, thời gian, ánh nắng, con người... làm người ta bất ngờ là giới hạn chất liệu mà lại có thể phản ánh phong phú giống như tranh sơn dầu vậy. Nhiều hoạ sĩ rất thích mà không làm theo được vì cạnh tranh cả nghệ thuật lẫn thương mại. Kỹ thuật tranh nhái hiện nay rất tinh xảo nhưng tranh Lê Hoàng Nguyên rất khó để bắt chước...". Có những khát khao lớn hơn, cũng vươn xa hơn cả về nghệ thuật lẫn giá trị thương mại, Lê Minh và Lê Hoàng Nguyên đã viết tiếp những trang đẹp cho câu chuyện nghệ thuật của gia đình...
"Hạ Long" tranh của hoạ sĩ Lê Chuyền.
“Thành tâm” tranh sơn mài của Lê Hoàng Nguyên.
Tranh của họa sĩ Lê Minh.