Chùa Quỳnh Lâm

Chùa Quỳnh Lâm là trung tâm Phật giáo lớn nhất của Việt Nam dưới các  triều đại Lý, Trần, Lê. Lễ hội chùa Quỳnh Lâm vốn là lễ hội truyền thống hàng năm ở Đông Triều luôn thu hút đông đảo tăng ni, phật tử, du khách trong và ngoài tỉnh về dâng hương, lễ Phật, tham quan các di tích văn hoá nhà Trần trên đất Đông Triều.

Theo sử sách và các nghiên cứu gần đây, chùa Quỳnh Lâm được hình thành từ khoảng cuối thế kỷ V, đầu thế kỷ VI và được tu sửa qua các triều đại Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê. Đặc biệt chùa được tôn tạo và hoàn chỉnh và thời Lý, Trần. Trong các thế kỷ XI-XIV và thế kỷ XVII-XVIII, Quỳnh Lâm đều là trung tâm Phật giáo lớn nhất của Việt Nam. Vào thời Lý, thiền sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không) đã cho đúc một pho tượng Di Lặc bằng đồng cao 6 trượng 6 thước (khoảng 20m), được coi là một trong “An Nam tứ đại khí” (bốn báu vật lớn của Việt Nam, gồm tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh và tượng Di Lặc chùa Quỳnh Lâm) và một tấm bia đá lớn; cao 2,5m; rộng 1,5m với hoa văn hình rồng uốn lượn mềm mại...

Chùa Quỳnh Lâm ảnh 1
Vườn tháp cổ Quỳnh Lâm.

Nhưng phải nói rằng chùa Quỳnh Lâm thực sự trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng nhất là vào thế kỷ XIV với hoạt động của thiền sư Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trên cơ sở chùa Quỳnh Lâm cũ, tháng 12 năm 1317 thiền sư Pháp Loa cho xây dựng và thành lập Viện Quỳnh Lâm với các kiến trúc đồ sộ và hoàn chỉnh. Vào năm 1329, Quỳnh Lâm trở thành “Đệ nhất danh lam cổ tích của nước An Nam”. Đây là trung tâm truyền kinh giảng đạo và đào tạo hàng ngũ sư sãi cho đạo Phật, nhiều hội lớn có tiếng trong sử sách được tổ chức tại đây, như hội “Thiên Phật bảy ngày, bảy đêm” (1325)...

Trải qua thăng trầm của lịch sử, các công trình kiến trúc cổ của chùa Quỳnh Lâm đã bị huỷ hoại, nhưng nhiều hiện vật như tấm bia đá lớn thời Lý, khánh đá và vườn tháp v.v... vẫn còn. Năm 1319, thiền sư Pháp Loa đã kêu gọi tăng nhân và phật tử chích máu in hơn 5.000 quyển kinh Đại Tạng cất giữ ở Viện Quỳnh Lâm. Năm 1328, như nói ở trên, thiền sư lại cho đúc một pho tượng Di Lặc. Sau đó, thiền sư tâu xin nhà vua cho được kéo tượng từ nền điện lên bảo tọa để dát vàng. Năm 1329, thiền sư cho đem theo một phần tro hài cốt của Đức Vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông (tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm) về đặt trong tháp đá ở chùa Quỳnh Lâm. Sang đầu thế kỷ XV, chùa bị phá huỷ nặng nề, phải trùng tu rất nhiều lần. Đến thế kỷ XVIII (1727) chùa dựng tháp Tịch Quang bằng đá xanh (tháp mộ của nhà sư Chân Nguyên - một nhà sư có công lớn đối với chùa), tháp gồm 7 tầng cao 10m, đỉnh tháp hình búp đa, trên tháp có gắn tấm bia ghi lại tiểu sử của sư Chân Nguyên. Đến giữa thế kỷ XVIII, chùa được trùng tu lớn với loại hình kiến trúc được quy hoạch chuẩn theo kiểu “nội công, ngoại quốc” với gần trăm gian, có cả chuông đồng, khánh đá rất to, trở thành trung tâm Phật giáo, văn hóa lớn nhất của cả nước...

Là một trong những trung tâm văn hoá Phật giáo tiêu biểu bậc nhất thời Lý - Trần, chùa Quỳnh Lâm đã có những bằng chứng về sự hội nhập Phật, Nho và Đạo. Nhưng ngày nay, thời gian đã làm cho tất cả những gì tồn tại ở đây đều bị tàn phá. Để tìm ra dấu vết của sự hội nhập, các nhà sử học đã đặt ra ba loại cứ liệu: Thứ nhất: Sự tích các nhân vật “truyền thừa” ở chùa Quỳnh Lâm còn biết được như Không Lộ, Pháp Loa... Thứ hai: Những truyền thuyết, giai thoại về chùa Quỳnh Lâm mà nhân dân quanh vùng vẫn kể. Thứ ba: Thơ văn của Bích Động  thi xã, một thi xã gắn bó mật thiết với chùa Quỳnh Lâm vào thời Lý-Trần. Lần lượt, các mảng tài liệu nói trên bổ sung cho nhau, đã rọi một vài tia sáng vào màn tối của quá khứ, giúp nhận dạng phần nào các lớp nền đã bồi đắp thành bề dày văn hoá ở Quỳnh Lâm. Với nhân vật thiền sư Không Lộ và các truyền thuyết xoay quanh Không Lộ thời Lý, như việc đúc tượng đồng chùa Quỳnh Lâm, hoặc các phép thuật siêu việt của con người này, ta thấy hiện diện ở đây một nền văn hoá Phật giáo bắt rễ sâu vào văn hoá dân gian bản địa cổ truyền, kể cả tín ngưỡng Đạo giáo đã được dân gian hoá từ lâu đời (Không Lộ là một trong những bằng chứng của sự kết hợp chặt chẽ giữa Thiền và Phật giáo)... Lễ hội chùa Quỳnh Lâm rất nổi tiếng trước đây có gốc rễ xa xưa chính là dựa trên cơ sở đó. Triết lý dân gian đã làm cho tư tưởng nhà Phật thêm khoẻ mạnh, và các hình thức sinh hoạt phong phú của dân gian giúp nó thâm nhập vào nhiều mặt của đời sống của người dân... Trải qua suốt quá trình lịch sử và chiến tranh tàn phá, đến nay chùa được Đại đức Thích Đạo Quang trụ trì. Huyện Đông Triều đã vận động nhân dân và các tổ chức đóng góp kinh phí để trùng tu, mở rộng vào năm 1995, xây nhà bia, dựng gác chuông và nhà thờ Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Có thể nói, lễ hội chùa Quỳnh Lâm mang hồn của lễ hội khu vực, ảnh hưởng xã hội của lễ hội Quỳnh Lâm là uy tín của một trung tâm Phật giáo lớn trong lịch sử.

Lễ hội chùa Quỳnh Lâm ngày nay diễn ra từ mùng 1 đến hết mùng 4 tháng 2 (âm lịch) hàng năm. Trong lễ, sau rước lễ của 7 thôn trong xã Tràng An về cúng Phật, tại khuôn viên chùa diễn ra các hoạt động VHVN, TDTT sôi động như cuộc thi “Làng vui chơi, làng ca hát'' với các nội dung thi gói bánh chưng, biểu diễn ca, múa, nhạc, tổ chức các trò chơi dân gian, đua thuyền và giải bóng chuyền nam, nữ của 7 thôn và 1 đơn vị quân đội đóng trên địa bàn tham gia.

Để lễ hội Quỳnh Lâm có một tầm cao mới, đúng với giá trị văn hoá đã có trong lịch sử, cần tìm được bản sắc riêng của lễ hội Quỳnh Lâm trong cụm các di tích nhà Trần tại Đông Triều dưới góc độ văn hóa, nghĩa là tìm ra cho lễ hội Quỳnh Lâm một bản sắc riêng, những nét “không đâu có” trong lịch sử để mở rộng tầm ảnh hưởng và tạo thương hiệu riêng của Trung tâm Phật giáo Quỳnh Lâm - một điểm du lịch văn hoá tâm linh ở Quảng Ninh.

Cùng chuyên mục