Tôi trở thành bạn của chị kể từ hơn 5 năm nay, sau cái đận tôi viết bài về cha chị - sư Tuệ - người có đóng góp lớn cho việc ra đời của Chiến khu cách mạng Đông Triều, tháng 6-1945...
Chị Kim Tuyên tại nhà riêng ông Tống Khắc Hài, tháng 3-2010.
Sau những năm tham gia quân đội, do sức khoẻ giảm sút, nên chị xin về hưu. Tháng 3-1997, cha chị mất. Trước khi nhắm mắt, ông dặn dò các con: Sau khi cha mất, các con nhớ hoả táng, đưa cha về ở cùng các đồng đội ở Chiến khu Đông Triều. Thỉnh thoảng các con đi thăm các bạn chiến đấu của cha...
Nhớ lời di huấn ấy, chị đã dành nhiều công sức đi khắp các tỉnh ở miền Bắc và vào cả TP Hồ Chí Minh gặp gỡ các bạn tù cũ của cha mình, thu thập tư liệu về ông thời kỳ hoạt động cách mạng, nhất là giai đoạn Cách mạng Tháng Tám 1945. Sau khi đã thu thập đủ tư liệu chứng minh, với sự ủng hộ của nhiều bậc lão thành cách mạng, bạn cũ của cha, chị đã liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị Đảng, Nhà nước xét công lao đóng góp cho cách mạng của cha mình. Cuối cùng, lòng thành và cái tâm trong sáng của chị đã được đền đáp khi mà ngày 20-3-2010, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định truy tặng Huân chương Độc Lập hạng Ba cho cha chị - ông Nguyễn Kiên Tranh (tức sư Tuệ), vì những đóng góp cho cách mạng. Chị bảo tôi rằng, như vậy là cha chị đã có thể mỉm cười nơi chín suối, bởi sinh thời ông đã có lúc chịu oan khuất do hiểu nhầm từ chính những người cùng chiến đấu với mình...
Chưa dừng lại ở đó, sau khi cha mất, Kim Tuyên đã dành nhiều thời gian sưu tập các di cảo của cha mình. Sinh thời, không chỉ hoạt động cách mạng, sư Tuệ còn là một nhà thơ, là bạn của một số tác giả nổi tiếng như Tú Mỡ, Văn Cao, Trần Huy Liệu... Ông lấy tên là Tú Gân, Hồng Châu, Xích Đạo. Thơ ông ngoài mục đích vận động cách mạng còn là những cảm hứng trước vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam. Kim Tuyên đã sưu tập, thống kê được hàng trăm bài thơ của cha chị sáng tác, dịch, xướng hoạ từ năm 1940 đến 1996. Đặc biệt những năm gần đây, từ những tư liệu sưu tập được, chị đã viết thành cuốn “Cha tôi” kể về cuộc đời sư Tuệ, từ khi rời quê nhà Nam Định đi hoạt động, những năm tháng gắn bó với Chiến khu Đông Triều và khi về hưu, vui với bạn thơ. Đáng chú ý trong số này có cả những bức thư sư Tuệ gửi cho người vợ yêu của mình, trong đó ông dùng cả thơ để diễn tả tình cảm, tâm sự với vợ. Đọc bản thảo đã được đánh máy, đóng cẩn thận chị gửi cho, tôi ngạc nhiên bởi tác phẩm đã được chị sắp xếp bố cục nội dung rất khéo, logic. Từng đoạn văn đến bài viết liên quan đến người thật, việc thật đều được chị diễn tả hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Đặc biệt, trong đó là những tư liệu liên quan đến Chiến khu Đông Triều và nhiều cán bộ cách mạng tiền khởi nghĩa như Nguyễn Bình, Hải Thanh, Đặng Châu Tuệ (chủ bút báo Than ở Vùng mỏ năm 1930)...
Từ việc biên soạn sách liên quan đến cha mình, chị nói vui, đôi khi nhìn lại chị thấy mình giống như người cán bộ văn hoá. Này nhé, ngày 25-10-2008, nhân đi dự kỷ niệm 3 năm thành lập của CLB thơ Đường tỉnh Bắc Giang, trước khi đọc thơ giao lưu, chị tranh thủ đặt vấn đề với các bạn thơ Bắc Giang, rằng tìm giúp các bác xưa bị giam tù ở căng Bá Vân (cùng cha mình) và giúp tìm mộ các liệt sĩ của Chiến khu Đông Triều hy sinh ở Ao Vè, xã Vô Tranh, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) ngày 5-5-1945. Từ đề nghị này, các bạn thơ ở Bắc Giang đã nhiệt tình giúp đỡ chị tìm gặp được nhân chứng trong vụ 9 liệt sĩ Chiến khu Đông Triều bị phỉ giết hại ở Ao Vè. Hội Người cao tuổi và Hội CCB xã sau đó còn ủng hộ lấy hơn 40 chữ ký gửi các các cấp có thẩm quyền đề nghị xét duyệt công nhận Ao Vè là di tích lịch sử. Trong lần gần đây gọi cho tôi, chị cho biết vừa đi Ao Vè để bàn việc lập bia ghi dấu sự kiện, tưởng niệm các liệt sĩ...
Bên cạnh một Kim Tuyên nặng lòng chữ hiếu với cha mẹ, tôi còn phát hiện ra chị là một người rất yêu thơ, là thành viên tích cực của CLB thơ Đại Thụ của phường Ô Chợ Dừa. Ngoài ra, chị còn xướng hoạ với rất nhiều bạn thơ cả nước trên các diễn đàn. Thơ của chị phần nhiều là thơ Đường, đề tài chủ yếu là tình yêu con người, thiên nhiên, tâm sự trước các vấn đề xã hội... Có bài nghiêm nghị, mang tính triết lý, tự sự nhưng có bài khá hóm hỉnh; như bài ''Không lo'', chị tự an ủi mình: Người đùa ''Đại tá lính phòng không”/ Thì có sao đâu, cũng khối chồng/ Lúc trẻ vung gươm- chồng xác giặc/ Khi già chồng giấy - viết thơ hồng/ Gánh vác giang sơn - chồng nợ nước/ Cưu mang cháu chắt chất vai gồng/ Tề gia cứu quốc vun tròn đạo/ Độc lập, tự do - phước chất chồng''. Chiếm dung lượng nhiều nhất trong những sáng tác là những bài thơ chị viết về cha mẹ, ở đó đầy ắp tình yêu thương, sự kính trọng của một người con với đấng sinh thành. Tôi thầm nghĩ ở nơi chín suối, hẳn sư Tuệ rất hài lòng và hãnh diện với những gì con gái yêu của mình đã làm...