Chuyện về một cán bộ Đoàn, một Anh hùng liệt sĩ

Di ảnh Anh hùng LLVTND - Liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt.
Di ảnh Anh hùng LLVTND - Liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt.

Trong không gian nghi ngút khói hương có di ảnh người em là liệt sĩ, ông Nguyễn Viết Tiến (ở khu 7, phường Cao Xanh, TP Hạ Long) bùi ngùi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện cảm động về người em trai của mình - Anh hùng LLVTND Nguyễn Xuân Việt.

TỪ MỘT CÁN BỘ ĐOÀN GƯƠNG MẪU

Nguyễn Xuân Việt sinh ra trong một gia đình ngư dân, đông con. Mới học hết lớp 5, Việt đã xin nghỉ để nhường cho các em được học hành. Anh xin vào làm xã viên HTX Đánh cá Thành Công (lúc đó TX Hòn Gai có một đơn vị hành chính là xã Thành Công, sau này Thành Công trở thành một phần của phường Cao Xanh ngày nay). Vào HTX, Việt được tín nhiệm bầu làm Bí thư Chi đoàn của HTX, phụ trách đội thuyền đánh cá đầu tiên lấy tên là “Thanh niên quản lý”. Đây là mô hình Thị Đoàn thí điểm ở xã Thành Công lúc đó. Sau đó, có 2 đội tàu do thanh niên quản lý khác cũng đã được thành lập ở trên địa bàn TX Hòn Gai.

Ông Tiến nhớ lại: Ngày đó, Đoàn xã Thành Công có 5 chi đoàn thì chú Việt em trai ông làm Bí thư Chi đoàn HTX Đánh cá. Nguyễn Xuân Việt trực tiếp phụ trách 12 đoàn viên là xã viên của 2 con tàu đánh cá, mỗi tàu 6 người.

Mục tiêu của đội tàu Thanh niên quản lý lúc đó là phát huy tinh thần xung kích của tuổi trẻ, nâng cao năng suất lao động, đánh bắt được thật nhiều cá về cho HTX, nộp lại cho mậu dịch quốc doanh, đồng thời rèn luyện đoàn viên trở thành những thanh niên gương mẫu cho các xã viên khác noi theo.

Một trong những thanh niên gương mẫu nhất lúc đó là Nguyễn Xuân Việt. Sau khoảng 1 năm vào HTX, anh đã được Thị Đoàn Hòn Gai tặng danh hiệu cán bộ Đoàn quản lý giỏi. Ông Tiến bảo, đáng tiếc là tấm bằng khen đó nay đã không còn giữ lại được. Cụ thân sinh ra các ông qua đời, không biết lúc sinh thời cụ đã để nó ở đâu.

Nghe đến đây, tôi quay sang ông Tiến ướm hỏi rằng lúc đó ông Tiến làm Bí thư xã Đoàn, còn em trai ông làm Bí thư Chi đoàn, nhận xét về nhau liệu có khách quan không? Ông Tiến cười và bảo rằng điều đó không đáng ngại vì Việt được khen thưởng có cả một hội đồng đánh giá mà, chứ đâu riêng gì ông. Vả lại, ông cũng bảo: “- Tôi nói có thể sẽ không hay vì anh lại đi khoe em. Anh muốn hiểu rõ những đánh giá về Việt, lát nữa hãy nghe những đồng đội của chú ấy ở chiến trường kể lại là khách quan nhất”.

Ông Nguyễn Viết Tiến bên bàn thờ người em anh hùng.
Ông Nguyễn Viết Tiến bên bàn thờ người em anh hùng.

ĐẾN NGƯỜI CHIẾN SĨ KIÊN CƯỜNG, BẤT KHUẤT

Ông Tiến tiếp tục câu chuyện: Tháng 7-1967, Nguyễn Xuân Việt tình nguyện viết đơn gia nhập bộ đội. Lúc đó cả 3 anh em ông đều đòi tình nguyện tòng quân. Nhưng Nguyễn Xuân Việt, em trai ông kiên quyết bảo, anh có vợ con, anh ở lại, em chưa có gia đình chưa vướng bận để em đi. Không ngăn được em, ông Tiến đành chấp nhận cho em lên đường thay mình.

Phát huy tinh thần gương mẫu, xung kích của người cán bộ Đoàn, trong khoá huấn luyện tại Yên Tử, Nguyễn Xuân Việt đạt loại xuất sắc trong tất cả các khoa mục, được bầu là chiến sĩ thi đua cấp trung đoàn. Sau khi hoàn thành khoá huấn luyện, Nguyễn Xuân Việt lên đường vào Nam.

Ông Phạm Hồng Thái, đồng đội với liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt, nhớ lại: Trong suốt 4 tháng hành quân liên tục vào mặt trận, Việt luôn hỗ trợ anh em đồng đội ốm yếu bằng cách mang giùm quân tư trang cho họ. Có khi anh đeo trên người đến 60 cân quân trang. Có lần bị sốt cao, anh em đề nghị Nguyễn Xuân Việt lên cáng để kịp hành quân, nhưng anh ấy không chịu, kiên quyết đi bộ trong 2 ngày cho đến khi bị ngất đi.

Cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt, Nguyễn Xuân Việt đã cắn răng viết thư về động viên người yêu ở quê đi lấy chồng. Mấy năm sau đó, không nhận được tin tức gì của Nguyễn Xuân Việt, cô gái tên Mơ, người yêu của anh đã phải gạt nước mắt đi lấy chồng.

Lại kể về chiến công của Nguyễn Xuân Việt ở chiến trường, tháng 4-1968, anh cùng hơn 190 đồng chí khác được bổ sung cho Tiểu đoàn đặc công 406 Kon Tum. Từ khi nhập ngũ đến khi hy sinh mới được 3 năm 8 tháng, nhưng anh đã kịp tham gia chiến đấu gần 30 trận. Anh trực tiếp chỉ huy mũi chính diện cũng mới được 3 năm và anh đã chỉ huy ở vị trí quan trọng 12 trận. Ở vị trí nào, Nguyễn Xuân Việt luôn thể hiện ý chí  tiến công không biết mệt mỏi. Ba lần bị thương anh đều xin ở lại đơn vị để điều trị, sau đó lại tham gia chiến đấu. Ngay từ trận đầu gặp địch trên đường hành quân về bổ sung cho Đặc công Kon Tum, Nguyễn Xuân Việt đã cùng đơn vị đánh tan quân địch đổ bộ xuống núi Ngọc Rô. Cá nhân Nguyễn Xuân Việt đã bắn cháy 2 máy bay lên thẳng.

Ông Trần Đình Diễn, người nhiều lần sát cánh trong các trận chiến đấu với liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt, kể: Vào ngày 5-10-1968, quân ta tập kích tiền đồn 2 của Mỹ ngụy ở Bắc Kon Tum. Đồng chí Việt dùng thủ pháo và B40 tiêu diệt 10 mục tiêu quan trọng. Ở một góc không thể bắn từ xa, đồng chí Việt đã đút nòng súng vào lỗ châu mai đường hầm để bóp cò nhả đạn, đạn nổ diệt điểm hoả lực của địch tạo điều kiện cho các mũi tiến công khác tiến lên. Riêng đồng chí Việt do bắn quá gần nên đã chịu sức ép rất nặng.

Cũng theo lời kể của ông Diễn, trong những ngày chiến đấu, hai lần đơn vị đã làm lễ truy điệu sống cho Nguyễn Xuân Việt trước khi xuất kích. Đó là trận đánh vào Biệt khu 24 vào đêm 7-1-1969 tiêu diệt một tiểu đoàn ngụy, 12 cố vấn Mỹ, phá huỷ Sở chỉ huy, 12 lô cốt, 2 kho vũ khí xăng dầu.

Trận đánh thứ hai đánh cầu Đắk Bla, hôm đó Nguyễn Xuân Việt cùng đồng đội dùng bè tre đưa 100kg thuốc nổ và hai đầu đạn DKB. Vốn là dân đánh cá, Nguyễn Xuân Việt đã ngâm mình dưới sông suốt 2 giờ trong đêm rét, đẩy bè từ thượng nguồn đến đặt vào mố giữa cầu, đặt kíp hẹn giờ phá sập cầu và tổ chiến đấu an toàn trở về.

Còn trong trận đánh ngày 16-3-1971 vào sân bay Kon Tum, Nguyễn Xuân Việt lúc đó là đại đội trưởng đã chỉ huy mũi chính diện. Anh chiến đấu oanh liệt, bị thương nặng, anh em đề nghị khiêng anh khỏi trận địa, nhưng Nguyễn Xuân Việt không đồng ý. Giao quyền chỉ huy cho cấp phó, anh một mình nổ súng thu hút hoả lực địch để đơn vị phát triển tấn công. Nguyễn Xuân Việt đã kiên cường bắn đến viên đạn cuối cùng. Và đến lần thứ hai bị đạn giặc bắn bị thương, Nguyễn Xuân Việt đã anh dũng hy sinh trong khi đơn vị giành chiến thắng.

Dù thời gian chiến đấu không dài, nhưng Nguyễn Xuân Việt đã được tặng nhiều danh hiệu cao quý, như: Chiến sĩ thi đua, Huy hiệu Bác Hồ, 3 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba. Anh cũng là đại biểu dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua Mặt trận Tây nguyên. Trong quân ngũ, Nguyễn Xuân Việt đã được đề bạt thượng uý, đại đội trưởng, được anh em đơn vị coi như “cánh chim đầu đàn”.

Đồng đội và gia đình đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt trở về quê hương. Ảnh: Tư liệu của gia đình liệt sĩ
Đồng đội và gia đình đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt trở về quê hương. Ảnh: Tư liệu của gia đình liệt sĩ

TRỞ VỀ QUÊ MẸ

Đầu năm 1971, Nguyễn Xuân Việt hy sinh, nhưng phải đến giữa năm 1972, gia đình mới nhận được giấy báo tử mà lại nhận cùng một lúc với người em của anh là Nguyễn Đình Khôi. Người cha cắn răng không khóc, còn bà mẹ thì ngất đi vì quá đau đớn. Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, gia đình vẫn không biết các con trai mình nằm ở nghĩa trang nào. Vì tuổi cao sức yếu, không đợi chờ được nữa, cả hai cụ thân sinh ra liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt đều lần lượt qua đời.

26 năm sau ngày anh hy sinh, năm 1997, Nhà nước đã truy tặng liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt danh hiệu Anh hùng LLVTND. Đây là vinh dự tự hào không chỉ cho gia đình anh, mà còn cho quê hương Quảng Ninh, cho đơn vị Tiểu đoàn đặc công 406. Nhờ những chiến công của những chiến sĩ anh dũng như Nguyễn Xuân Việt, Tiểu đoàn đặc công 406 cũng đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Và mãi đến năm 2009, thân nhân và đồng đội mới tìm được phần mộ và đưa anh từ Nghĩa trang liệt sĩ Kon Tum về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long).

Ông Tiến bảo, giờ ông đã an tâm rồi vì phần mộ em mình đã được chuyển về quê hương. Bà cụ thân sinh ra ông và liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt cũng đã được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Ông Tiến vui lắm, ông dành cả một căn phòng trang trọng nhất để làm phòng thờ cha mẹ và em trai. Ông coi như đây là phòng truyền thống của gia đình để mỗi dịp con cháu quây quần là lại được nghe kể về câu chuyện hào hùng của người chú, người ông kiên trung, bất khuất.

Huỳnh Đăng

Cùng chuyên mục