Thảo luận tại hội trường ngày 2/11, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI về dự án Luật Luật sư (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh, cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi luật. Đồng thời, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về điều kiện hành nghề, phòng ngừa xung đột lợi ích và trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm xây dựng đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, liêm chính.
Theo đại biểu, luật sư là nghề nghiệp đặc thù, gắn trực tiếp với hoạt động tư pháp, quyền con người và quyền công dân. Vì vậy, việc mở rộng cơ hội hành nghề cần đi đôi với kiểm soát chặt chẽ điều kiện, trách nhiệm và các nguy cơ xung đột lợi ích.
Góp ý về điều kiện miễn, giảm thời gian đào tạo và tập sự hành nghề luật sư tại khoản 6 Điều 9, đại biểu cho rằng dự thảo chưa bao quát trường hợp người đang bị thanh tra, điều tra hoặc xem xét kỷ luật nhưng chủ động xin thôi việc trước khi có kết luận, quyết định xử lý. Sau đó, những người này vẫn có thể đề nghị miễn tập sự theo quy định, tiềm ẩn khoảng trống pháp lý và nguy cơ bị lợi dụng để né tránh trách nhiệm. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế xác minh, quy định rõ điều kiện và thời điểm xem xét miễn, giảm thời gian đào tạo, tập sự; vừa bảo đảm không bỏ lọt vi phạm, vừa không hạn chế quyền hành nghề khi chưa có kết luận chính thức.
Đối với quy định mở rộng đối tượng hành nghề, đại biểu đề nghị cân nhắc điều kiện về văn bằng đối với người có bằng luật sau đại học tại các quốc gia không đào tạo cử nhân luật. Theo đại biểu, tiêu chuẩn năng lực cần được đánh giá trên cơ sở trình độ chuyên môn và khả năng đáp ứng yêu cầu hành nghề thực tế, thay vì phụ thuộc vào mô hình đào tạo hoặc trình tự cấp văn bằng của từng quốc gia. Người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật, được đào tạo chuyên sâu và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đào tạo nghề, tập sự, kiểm tra kết quả tập sự tại Việt Nam cần được xem xét theo tiêu chuẩn thống nhất.
Một nội dung được đại biểu đặc biệt quan tâm là kiểm soát xung đột lợi ích khi mở rộng đối tượng hành nghề. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định không cho phép luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý trong vụ việc mà trước đó chính mình đã tham gia với tư cách người tiến hành tố tụng, như Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán. Quy định này nhằm bảo đảm tính khách quan, liêm chính và củng cố niềm tin của người dân đối với hoạt động tư pháp.
Về chủ trương cho phép giảng viên chuyên ngành luật tham gia hành nghề luật sư, đại biểu đánh giá đây là hướng đi tích cực, góp phần gắn kết lý luận với thực tiễn. Tuy nhiên, cần bổ sung điều kiện giảng viên phải được người đứng đầu cơ sở đào tạo đồng ý bằng văn bản trước khi đăng ký hành nghề; đồng thời, không được nhận bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong những vụ việc có quan hệ công tác, hợp đồng hoặc xung đột lợi ích trực tiếp với cơ sở đào tạo nơi mình công tác. Đại biểu cũng đề nghị cụ thể hóa tiêu chí “không sinh sống ổn định, lâu dài và không đăng ký thường trú tại Việt Nam” tại Điều 10, tránh cách hiểu và áp dụng không thống nhất.
Liên quan đến quy định thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư đối với trường hợp không hành nghề trong 24 tháng liên tục, đại biểu cơ bản đồng tình, song đề nghị làm rõ khái niệm không hành nghề, căn cứ xác định thời hạn, cơ quan xác minh, tiêu chí xác định lý do chính đáng và trình tự thông báo, giải trình trước khi thu hồi. Bởi trên thực tế, luật sư có thể thay đổi hình thức hành nghề, chuyển tổ chức hành nghề hoặc tạm ngừng hoạt động. Nếu thiếu quy định cụ thể, việc áp dụng có thể cứng nhắc, ảnh hưởng đến quyền hành nghề hợp pháp.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề đối với luật sư có hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Trong đó, cần xác định rõ mức độ vi phạm, thẩm quyền kết luận và trình tự xử lý, bảo đảm chế tài tương xứng, tránh tùy nghi trong áp dụng.