Năm 2008, công trình nghiên cứu văn bia Đông Triều được Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện. Bước đầu đã sưu tập được 167 bia, chuông với 365 bản dập, trong đó văn bia có trên 120 cái. Tuy nhiên, theo TS Đinh Khắc Thuận, thành viên tổ nghiên cứu, hầu hết hệ thống văn bia Đông Triều nhìn chung vẫn chưa được phát huy hết giá trị...
Bia đá chùa Quỳnh Lâm.
Các văn bia Đông Triều hiện nằm tập trung tại các đình, đền, chùa, miếu và nhà thờ họ trên địa bàn. Ngoài ra có một phần không nhỏ đang trở thành vật gia dụng nằm rải rác khắp các xã. Về niên đại, bia Đông Triều chủ yếu từ thời Trần, Lê, Tây Sơn và Nguyễn. So với các vùng miền khác, các văn bia di tích Đông Triều đặc biệt có nội dung phong phú, ghi lại chân thực nhiều diễn tiến, sự kiện quan trọng của từng di tích, phản ánh rõ lịch sử di tích. Chẳng hạn cụm văn bia An Nam cổ tích danh lam đệ nhất Quỳnh Lâm bi ký ở chùa Quỳnh Lâm cho biết chùa Quỳnh Lâm từng là đệ nhất danh lam. Thời vua Trần Nhân Tông cho xây dựng to lớn, cửa cổng rực rỡ, toà sen xán lạn, tượng pháp nghiêm trang... Những lần tu sửa tiếp theo, lần sau đều to đẹp hơn lần trước. Ví dụ lần dựng lại vào năm Vĩnh Tộ thứ 3 (1621), gồm thượng điện 3 tầng, thiêu hương, tiền đường, hương vũ, hậu phật đường, 2 bên hành lang, hậu tăng phòng oản... Sau đó đến năm Cảnh Hưng thứ 30 lại được tu sửa, mở rộng quy mô và tái tạo khu tháp mộ... Cũng như vậy, cụm văn bia An Sinh từ chung, Bản phủ bi lý, Trần triều bi ký, Quải lập hậu thần bi ở đền An Sinh không chỉ cho ta biết rõ ngự vị các vua Trần an táng tại đây mà còn hé lộ thông tin về một vị hoàng hậu tại lăng Đồng Thái và sự có mặt của Ngọc Hoa Ai Lao công chúa. Ngoài ra còn cho biết thêm về các chỉ dụ của chúa Trịnh miễn phu phen tạp dịch cho dân bản xã để lo trông nom, phụng thờ đền. Văn bia đền Đức Sơn, xã Yên Đức có lối điêu khắc rất khác biệt. Trán bia, giữa lòng bia đều khắc 3 chữ nổi, đặc biệt chữ ở giữa bia "Tam Bảo địa" choán hết phần lớn mặt bia. Hai bên bia mỗi bên khắc 3 hàng chữ Hán. Nội dung bia cho biết vị Trần Khắc Kỉ được ban quốc tính và Bảo Quỳnh công Trần công đã cúng trang Ma Liêu làm của Tam bảo, tức hiến đất cho nhà chùa. Sau này phần đất đó được giao cho Trần Huy Nguyên làm giám thủ, trông coi. Văn bia chùa Bác Mã lại là lệnh chỉ cho dân xã Bác Mã miễn phu phen tạp dịch để trông nom phụng thờ chùa. Văn bia chùa Phúc Trí (Bình Dương), chùa Hoa Yên, đền Di Ái (Đức Chính) đều ghi lại việc trùng tu và những người có tâm công đức lớn. Qua đó ta biết được Lê Thị Ngọc Nương, một vương tần thời vua Hoàng Định đã mua đất cúng, vợ chồng đô đốc Nguyễn Đình An công đức nhiều tiền vàng xây chùa, dựng tượng...
Có thể nói tư liệu văn bia Đông Triều là rất phong phú, hầu hết đều có liên quan đến di tích, dấu tích di tích, đặc biệt là các di tích thời Trần. Qua nội dung các văn bia này, các nhà nghiên cứu tổng hợp đầy đủ hơn về giá trị, vị trí, ý nghĩa từng di tích, góp phần lý giải nhiều truyền thuyết, huyền thoại lịch sử v.v... Thế nhưng điều đáng nói là hiện nay hệ thống văn bia này chưa được lưu giữ, bảo quản, phát huy đúng với giá trị của nó. Rất nhiều văn bia sau khi khai quật được chất đống lẫn lộn với nhiều hiện vật khác tại các nhà kho tạm bợ. Thậm chí vứt vô tội vạ ở gốc cây, vườn chùa, để mặc cho mưa nắng huỷ hoại. Đáng nói nhất là hệ thống các hiện vật ở Đền Sinh và cụm các lăng mộ vua Trần. Mặc dù đền An Sinh có nhà trưng bày hiện vật song diện tích nhỏ hẹp không chứa đủ hiện vật. Không gian trưng bày cũng chưa đảm bảo về tiêu chuẩn nhiệt độ, ánh sáng gây hư hỏng hiện vật (trong đó có nhiều văn bia rất có giá trị). Ngoài ra, như đã nói ở trên, hiện một phần không nhỏ văn bia nằm rải rác trong dân và đang trở thành vật gia dụng, làm mai một giá trị. Trong số những văn bia đã được sưu tập, lưu giữ cũng có không ít cái trải qua thời gian đã bị hư hại, vỡ vụn. Một số khác chưa được dịch chú cẩn thận, như văn bia đình Hoàng Xá (Bình Dương), văn bia ở núi Con Mèo (Yên Đức), ở chùa Non Đông (Mạo Khê)...