Họa sĩ Ngô Phương Cúc và những... “bức tranh cuối cùng”

Một hoạ sĩ thuộc lớp sau Ngô Phương Cúc kể về ông: Ngô Phương Cúc vẽ bức tranh cuối cùng cách đây 7 năm rồi. Ông từng bảo: Đây là bức cuối cùng của mình...!

Đó là bức Người là mùa xuân đất nước với không gian ngờm ngợp rừng cây sum suê toả bóng, dòng suối chảy uốn lượn giữa các hàng cây. Ven suối có một bàn làm việc, cây bút, cuốn sách gió đang lật giở. Và cụ già ngồi đó đang thong thả cho đàn cá ăn, chúng tranh nhau đớp mồi tạo ra những vòng sóng nhỏ... Thật ra, bức tranh này ông vẽ đã lâu, dịp đó ông mang ra sửa lại. Gần đây, ông lại sửa tiếp, ông bảo, Cục Mỹ thuật đặt hàng bức tranh, họ gửi ở đây rồi lúc nào đến lấy là lấy!

Họa sĩ Ngô Phương Cúc

Họa sĩ Ngô Phương Cúc

Cách đây 7 năm, Ngô Phương Cúc 70 tuổi. Tôi nghe hoạ sĩ kia nói vậy thì lấy làm lạ. Hồi tôi gặp ông, cách đây 3 năm, năm 2006, ông cho tôi xem bức tranh vừa hoàn thành của mình, bức Vùng mỏ bước vào đánh Mỹ, ông cũng có vẻ nghĩ ngợi hồi lâu rồi trầm ngâm bảo: Tôi vẽ bức này xong thì vẽ thêm bức nữa là bức cuối cùng, rồi thôi không vẽ nữa...!

Tôi nhìn sức vóc của ông mà lòng trào lên niềm xúc động. Ông gầy gò ốm yếu lắm, người chỉ còn da bọc xương thôi! Vật chất không thiếu gì chỉ phải nỗi ông chả ăn được bao nhiêu. Ông gầy như vậy khá lâu rồi, có cảm giác ông chỉ mang không dáng vóc nhỏ bé của chính mình cũng khó nhọc làm sao, đi lại lâu lâu một tý là phải ngồi thở dốc. Hồi đó, ông ở riêng một tầng trên cùng, đi sang bên cạnh là gian thờ, cũng là phòng vẽ. Chiếc giường một phần, một phần phòng ông để đồ ăn sẵn, còn lại dựng úp mặt vào tường là các bức tranh sơn dầu, các hòm xiểng xung quanh hoá ra cũng đựng đầy các ký hoạ, các bức tranh đã hoàn thiện hoặc đang vẽ dang dở. Sức yếu vậy nên hầu như chẳng mấy khi ông xuống các tầng dưới mà chỉ loanh quanh ở tầng của mình. Cũng bởi ở không gian khá cao này nên cái chuồng chim câu của nhà hàng xóm chợt thu ngay vào tầm mắt. Ông quen với đôi chim câu một con đen, một con trắng, khi chúng có thêm 2 con chim nhỏ ông cũng biết. Rồi khi chúng rủ nhau bay đi đâu mất, sau đó chỉ có một con trở về đậu trên tổ, ông thấy thương xót, không biết những con khác đã đi đâu, số phận thế nào... Cứ như thế, thỉnh thoảng con chim nhỏ lại trở về tổ của mình, đậu im lặng nơi ấy, rồi lại bay đi. Bẵng đi một thời gian, ông không thấy nó trở lại, không biết nó còn sống hay đã chết? Ngẫm ngợi về loài chim nổi tiếng chung thuỷ này, cảm xúc đã khiến ông cầm bút vẽ bức sơn dầu Cánh chim cô đơn.

Lần gặp mới đây, ông khoe chúng tôi bức tranh này và hai bức khác nữa cũng vừa vẽ xong, đó là bức Hòn Gà Chọi và một tranh vẽ về mỏ - đề tài sở trường của Ngô Phương Cúc. Ba bức này ông sẽ chọn đem đi một bức để triển lãm khu vực cùng với bức tranh Xuân về trên đất mỏ (bức này đã đoạt giải khuyến khích triển lãm tranh đề tài Vịnh Hạ Long của tỉnh dịp cuối năm 2008). Ông thều thào bảo: Mệt lắm, ngày chỉ vẽ được 1 tiếng, 2 tiếng là cùng thôi!

Ngoài 3 bức này, xem tập ảnh chụp hàng chục tranh mới sáng tác của ông còn thấy cái thì ông vẽ trận địa giai đoạn chiến tranh biên giới, cái vẽ về mỏ... Tôi chợt nhận ra khi ông bước vào cái tuổi xưa nay hiếm thì màu sắc trong tranh của ông lại rất tươi tắn với những gam vàng, xanh là chủ đạo. Trước kia, ông hay vẽ những gam màu trầm, đậm hơn. Có lẽ, tuổi tác và những trải nghiệm cuộc đời đã khiến suy nghĩ của người hoạ sĩ lão làng này khác đi, ông đã bước qua những nỗi đau riêng, sự khó khăn chất chồng của một thời mà trở nên bình thản, lạc quan hơn chăng?

Tiễn chúng tôi ra về, ông ngồi ở cửa nhìn theo. Cái dáng khắc khổ, đau yếu của ông cũng tựa như một bức tranh chân dung, cho người ta thấy sự hữu hạn của đời người. Và cái nhìn đăm đăm của ông cứ ám ảnh tôi, cái nhìn vừa như bình thản, lại vừa như vẫn còn đau đáu, khao khát điều gì... Ông bảo nghệ thuật đã cứu giúp ông vượt qua những gian khó cuộc đời với đầy đủ nỗi nhọc nhằn vật chất và sự khủng hoảng về tinh thần. Ông từng bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo, nơi địa ngục trần gian, nỗi căm hờn cháy ngút ngát trong ông, đôi vần thơ ông cảm tác cũng ngay từ nhà ngục này mà ra. Được trao trả ngày 20-8-1954, cuộc sống mở trang mới cho ông với tinh thần tưng bừng chiến thắng, trong những vần thơ chắt lọc mà giàu cảm xúc, ông vui vẻ ca vang ngợi ca cuộc sống mới. Ông treo ảnh Bác Hồ trên cao, lòng biết ơn Đảng và Bác sâu sắc. Hôm trao tặng huy hiệu 35 năm tuổi Đảng, đang yếu lắm nhưng ông vẫn cố đi, đồng chí, bạn bè sợ ông không chịu nổi phải tìm cái ghế cho ông ngồi nhận.

Chuyện đời riêng của Ngô Phương Cúc có lắm nỗi khuất khúc, éo le. Người vợ đầu bạc mệnh, ông hưởng nỗi ngọt ngào của cuộc sống chưa bao lâu thì bà đã ra đi (bà mất khi mới ngoài 30 tuổi) để rồi ông bước vào cuộc hôn nhân thứ hai mà không được mặn mà như ý và rồi bà cũng lại mất sớm. Hai lần gà trống nuôi con, lại thêm nỗi bần hàn nghèo túng của một thời quá vãng, chắc không nỗi nhọc nhằn nào ông chưa từng nếm trải. Ông từng kể với tôi lần làm tang cho bà, đang túng quá, tự dưng có một khoản tiền bán tranh người ta đưa đến, vậy mới xong việc được. Xuyên suốt quãng đời tuổi trẻ ấy là nỗi cô đơn không chia sẻ được cùng ai, nỗi cô đơn mênh mông trong trái tim ông. Ông lao vào hội hoạ. Hội hoạ đã giúp ông trải lòng mình lên tranh, những bố cục, hoà sắc, những mảng miếng đã giải thoát cho ông sự bế tắc về tinh thần. Càng vẽ, nỗi đau trong lòng càng vợi đi, dịu đi. Vũ Quý, một hoạ sĩ lớp sau nhưng từng làm việc ở mỏ Hà Tu cùng ông thời ấy kể lại, có khi ông ngồi một mình với cốc rượu trắng và vẽ, ông vẽ nhiều đề tài, có khi chỉ là vẽ đi Viếng mộ mẹ nhưng nhìn tranh thấy cảm xúc rất mênh mông... Quãng thời gian ông lao đao nhất ấy cũng là giai đoạn hội hoạ của Ngô Phương Cúc nở rộ nhất, thành công nhất!

Họa sĩ Ngô Phương Cúc và những... “bức tranh cuối cùng” ảnh 2
“Vùng mỏ bước vào đánh Mỹ” - Một trong những “bức tranh cuối cùng” của ông.

Gặp ông lần này, tôi mừng vì người con trai cả đã mua nhà riêng, sắp xếp chỗ ở cho ông ngay tầng 1, có không gian thoáng đãng, cây xanh tiểu cảnh mát mắt lắm. Ông vẫn chỉ nhỏ nhẻ ăn chút đồ ngọt, uống chút bia thôi. Trò chuyện mới hay, ông đang có ý tưởng mở triển lãm tranh cá nhân. Điều kiện kinh tế của con cái đã khá hơn nên có thể đỡ đi phần nào. Còn rất nhiều việc phải chuẩn bị khác thì ông nhờ bạn bè. Ông chỉ thắc thỏm về tranh, 5 bức sơn mài thì 1 bức đã cho bạn, 1 bức tặng đoàn cán bộ Liên Xô, 3 bức còn lại ông đã làm khung cẩn thận rồi. Một số tranh đã bán, treo ở các bảo tàng phải mượn lại. Có tranh thất lạc chưa tìm được. Có tranh còn nhưng có người hỏi mua ông không bán mà để triển lãm đã... Bạn mỹ thuật cũng hồi hộp, phấp phỏng chờ triển lãm của ông.

Quả là ông đã như ngọn đèn với bấc dầu hao tưởng có thể tắt bất cứ lúc nào nhưng có điều gì đó vẫn rất mãnh liệt trong ông. Tôi tin đó là hội hoạ! Ăn thều thào, nói thều thào nhưng ông vẫn vẽ, dù mỗi ngày chỉ vẽ 1, 2 giờ là phải thôi, phải nghỉ vì không có sức. Dồn sức thể hiện cho hết mình, cố gắng từng chút một... Ông không chỉ vẽ bằng tay mà vẽ bằng cả ý chí. Mỗi khi đưa một nét vẽ mới trên toan là thách thức với ông nhưng vẽ xong một bức tranh thì hy vọng trong ông lại dâng lên, ông lại khao khát vẽ tiếp bức nữa. Cứ như thế...! Người còn nhiều thời gian hay bảo chỉ vẽ chơi thôi, cái sau nữa nữa mới đạt tới tầm... Riêng với Ngô Phương Cúc, bức tranh nào ông bắt tay vẽ ông đều coi là ''bức tranh cuối cùng'', bởi biết mình còn rất ít thời gian. Cầu trời cho niềm hy vọng sống và vẽ ấy trong trái tim người hoạ sĩ già đáng kính đừng bao giờ lụi tàn!

Ngô Phương Cúc thuộc lớp hoạ sĩ đầu tiên của Quảng Ninh, ông đã sáng tác hàng trăm bức sơn dầu, tranh lụa, sơn mài, khắc gỗ, bột màu và ký hoạ trong suốt nửa thế kỷ theo đuổi con đường nghệ thuật. Tranh của ông thiên nhiều về vẽ phong cảnh, những bức thành công hơn cả là vẽ về sản xuất của khu mỏ, trong đó có bức sơn dầu Máng than lộ phong, đoạt giải khuyến khích Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nhuần nhuyễn trong sử dụng chất liệu sơn dầu, ông còn tạo ra một lối vẽ riêng độc đáo bằng cách sử dụng màu để đắp nổi các chi tiết v.v...

Cùng chuyên mục