Khẩu dậu cá ở Quan Lạn xưa

Quan Lạn được biết đến là làng Việt cổ có truyền thống làm nghề cá của Vân Đồn. Lợi dụng địa hình có các doi cát nổi, từ xa xưa làng Quan Lạn đã sử dụng phương thức khẩu dậu để đánh bắt thuỷ hải sản.

Đây là những địa điểm có thể đánh bắt cá cố định. Theo nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Duy Thiệu (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam), khẩu dậu cá không chỉ là khu vực cung cấp cho dân Quan Lạn nguồn kinh tế quan trọng mà chúng còn là khối tài sản công chủ yếu, giống như kiểu ruộng đất công của cộng đồng, giúp cho thể chế xã hội cấp cơ sở sử dụng cho các mục đích công khác. Ở khía cạnh này, nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Thiệu khẳng định, khẩu dậu cá còn được coi là nét sinh hoạt văn hoá đặc trưng của văn hoá biển trong các làng xã ven biển cổ, trong đó Quan Lạn là một địa điểm nổi bật.

Khẩu dậu vốn là bãi ngập triều trước làng có những doi cát nổi lên. Khi thuỷ triều lên ngập nước, theo đó cá ngoài biển vào sâu gần bờ. Thuỷ triều xuống, cá trở ra biển gặp các doi cát cản trở nên phải lần theo những rạch nước mà ra. Người dân đã dùng những tấm dậu để đón, ngăn các rạch nước đó mà bắt cá. Nguyên tắc đánh bắt cá bằng khẩu dậu giống kiểu đánh đăng. Một bãi cá thường gồm 4 vòng dậu, là những hàng cọc cắm dày dần từ vòng miệng bãi dậu đến vòng đáy. Kèm theo đó là các tấm dậu được ken dày bằng các thanh nứa và dây rừng cùng theo cách mau dần lên từ vòng miệng đến vòng đáy. Các vòng dậu được nối kín với nhau và thu hẹp dần. Ở vòng cuối cùng có cửa ra, trong đó đặt một dụng cụ giống như cái hom khổng lồ. Cá theo dòng thuỷ triều xuống, trở ra bị hạn chế trong các tấm dậu, cuối cùng phải chui vào hom, ngư dân chỉ việc bắt cá trong hom.

Xây dựng một bãi khẩu dậu cá là công việc nặng nhọc và tốn kém, chỉ những hộ có thuyền và nhiều vốn mới làm nổi. Thông thường 3 ngư dân khoẻ mạnh làm liên tục trong vòng hơn 1 tháng thì mới xong một bãi dậu. Vất vả, nhưng khi bãi dậu đã hoàn thành thì cứ chiều chiều khi nước rút là có thể đi thu cá về. Theo những người cao tuổi ở Quan Lạn, cách đây khoảng vài chục năm trước, làm khẩu dậu được rất nhiều cá. Có người mỗi chiều thu được 500 con cá chim, hàng chục con cá sủ to, vài tạ cá xạo. Những miếng dậu tốt còn có thể thu được 6 - 8 tấn cá húng.

Bởi việc làm khẩu dậu thu được lợi nhuận lớn lên các khẩu dậu do làng quản lý. Thông thường khẩu dậu tốt nhất (miếng dậu thuỷ triều ngập sớm nhất, thu cá trước nhất) hàng năm được làng dành để tặng các cụ ra lão và các trưởng giáp. Những khẩu dậu còn lại được làng bán đấu thầu, ai trúng có quyền khai thác cá, có nghĩa vụ nộp thuế cho làng. Từ xa xưa việc quản lý, sử dụng các khẩu dậu trong làng đã được ghi vào hương ước rất cụ thể. Trong nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Thiệu đã dịch lại bản hương ước sao vào năm 1942 do chánh tổng Vân Hải và Hội đồng kỳ mục lý dịch cùng ký tên, trong đó viết: "Làng không có ruộng đất công, chỉ có 25 khẩu dậu cá, chia làm 4 hạng, trừ 3 khu hạng ba, 4 khu hạng tư biếu thủ từ và các vị đại lão, còn thời đem bán sung công...".

Những người ra lão của làng Quan Lạn đều đã trải qua những chặng đường dài tiến thân trong khuôn khổ của tổ chức giáp, đến tuổi lão (xưa kia quy định 49 tuổi, sau đó là 60 tuổi), lý trưởng thay mặt làng chính thức tuyên bố biếu các cụ 3 khẩu dậu tốt nhất. Sau đó các cụ có thể cùng nhau làm hoặc giao cho 1 người trong nhóm có hoàn cảnh khó khăn hơn khai thác. Nếu thu hoạch tốt sẽ biếu cá cho các anh em cùng tuổi. Các khẩu dậu cá này được các cụ lên lão chung nhau khai thác trong vòng một hoặc vài năm, cho tới khi có lứa ra lão tiếp theo thì trả làng.

Đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Thiệu, có thể thấy khẩu dậu cá là một phương thức sản xuất nghề biển độc đáo riêng có của một số làng biển phía Bắc, trong đó làng cổ Quan Lạn là một ví dụ tiêu biểu. Phương thức này đã không chỉ đem lại nguồn sống chủ yếu cho ngư dân địa phương mà còn là cơ sở điều tiết, quản lý xã hội. Ngoài ra việc lấy khẩu dậu cá như một thứ tài sản công có giá trị cấp cho các cụ lên lão là một nét sinh hoạt văn hoá đặc trưng "Văn hoá biển" của làng xã Việt cổ truyền. Rất tiếc hiện nay do nhiều nguyên nhân khiến điều kiện địa hình thay đổi, thêm vào đó là nguồn lợi thuỷ sản ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, người làng Quan Lạn không còn duy trì hình thức khẩu dậu cá nữa...

Cùng chuyên mục