Bài viết không nhằm tìm hiểu những yếu tố lịch sử trong truyện ngắn của nhà văn Hữu Tuân như đối tượng khách quan của khoa nghiên cứu lịch sử. Và có lẽ, việc làm ấy là không cần thiết, bởi khi nói đến lịch sử trong văn học, chúng ta đã “ngầm định” với nhau đó là thứ lịch sử đã được nghệ thuật hoá, chủ quan hoá.
Trên hành trình đi tìm các giá trị Chân, Thiện, Mỹ của cuộc sống, nhà giáo - nhà văn Hữu Tuân đã chắt chiu, dành dụm từ những va động của cõi sống, của kí ức dân tộc, lắng vào tận thẳm trái tim mình những ưu tư thời thế rồi trân trọng gửi đến bạn đọc hai tập thơ văn chọn lọc Nước mắt của đất và Giọt lệ kinh thành. Trong hai tác phẩm đó, bên cạnh những vần thơ mộc mạc về thiên nhiên, quê hương, gia đình, bè bạn, những cảm khái thế thái nhân tình đáng suy ngẫm, những bài phê bình thấu tình đạt lí về các tác giả, tác phẩm văn học Quảng Ninh, văn học nhà trường, theo tôi, phần hay và có giá trị hơn cả là mảng truyện dã sử.
Nhà giáo Hữu Tuân.
Ảnh: Q.H
Nhiều người vẫn bảo viết truyện lịch sử không khó, bởi đã có sẵn tư liệu sách vở, chỉ cần chịu khó đọc, không cần phải tìm kiếm, tưởng tượng và nhào nặn hiện thực. Nếu bạn đọc quan niệm như vậy, e không ổn và chưa thật hiểu mảng truyện dã sử. Viết truyện lấy đề tài từ lịch sử kì thực rất khó. Người viết không những phải tránh việc nhàm chán là mô phỏng lại lịch sử trong tính cụ thể và toàn vẹn của nó theo cách nhìn của một sử quan mà trong việc hư cấu, nhào nặn lịch sử theo ý đồ nghệ thuật chủ quan còn phải luôn tôn trọng lịch sử và tránh những điều nhạy cảm, đụng chạm đến tâm thức dân tộc. Làm được như thế, người viết vừa phải giỏi sử, giỏi chữ nghĩa, đặc biệt là vốn từ cổ, vừa phải có tư tưởng riêng. Điều quan trọng là, qua sự kiện và nhân vật lịch sử đó, anh muốn gửi gắm điều gì đến bạn đọc.
Văn học Việt Nam thời gian qua chứng kiến sự lên ngôi của truyện về đề tài lịch sử. Người “bắn phát súng vào quá khứ” gây tranh cãi trong một thời gian dài là Nguyễn Huy Thiệp với các truyện ngắn Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết liên quan đến những nhân vật nổi tiếng như Quang Trung, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du... Sau phải kể đến những tiểu thuyết lịch sử như Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu Thượng ngàn, Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)... Dù còn nhiều điều phải bàn về các tác phẩm kể trên, nhưng theo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, các tác giả đã có góc lịch sử của riêng mình.
Chúng tôi đọc các truyện ngắn lịch sử của Hữu Tuân trong tâm thế tìm xem ông đã nhìn về lịch sử như thế nào, chứ không phải đã kể lại lịch sử ra sao. Điều hấp dẫn chúng tôi khi tiếp nhận các truyện ngắn về đề tài này là thái độ dũng cảm của ông khi viết về những “góc khuất” lịch sử mà chính sử né tránh hoặc giả có nói đến cũng chưa thật rõ như mối tình giữa Mỵ Châu và Trọng Thuỷ, Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành (cô và cháu), Công chúa Ngọc Hân và vua Quang Trung; số phận của những nhân vật lịch sử như nàng Điểm Bích, An Tư, Hồ Quý Ly, Bích Châu, Lê Thánh Tông...; các sự kiện lịch sử còn nhiều bàn cãi như cái chết của vua Trần Thuận Tông, sự ra đời của vua Lê Thánh Tông, nguồn gốc họ Mạc...
Những đề tài gai góc đó đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho ngòi bút vừa trĩu nặng suy tư vừa canh cánh với quá khứ dân tộc của Hữu Tuân. Thực ra, ôn cố là để tri tân. Việc ông không tiếc lời ngợi ca những mối tình đẹp, thấm đẫm nước mắt thời quá vãng và ngời sáng thuỷ chung giữa Mỵ Châu và Trọng Thuỷ (Thiên tình sử Âu Lạc), Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành (Bản tình ca cùng huyết thống), Ngọc Hân và Quang Trung (Giọt lệ kinh thành) đã khiến các nhân vật xa xưa và sách vở ấy gần với chúng ta hơn. Có lẽ, nếu không đọc các truyện ngắn của Hữu Tuân, trong ý nghĩ của một số người, Trọng Thuỷ chỉ là một tên gián điệp lợi dụng cả vợ mình; Trần Quốc Tuấn chỉ là một vị tướng bách chiến, bách thắng, Quang Trung chỉ biết đánh nhau để thống nhất giang sơn xã tắc... Trong truyện của Hữu Tuân, họ người hơn nhiều. Chính vì thế, Trọng Thuỷ mới bần thần, rùng mình và mắt nhoè nước khi nghĩ đến viễn cảnh xa vợ, chàng mới đau đớn cùng mình khi tìm thấy xác vợ, và nước mắt chàng đã khiến cơn thịnh nộ của biển cả biến mất. Còn Quốc Tuấn đã chịu mọi nỗi đau khổ và dè bỉu để yêu người cô của mình...
Không những ngợi ca những mối tình đẹp của quá vãng, ngòi bút ấm nóng tình người của Hữu Tuân còn giúp người đọc hình dung rõ hơn về những người con gái tài sắc vẹn toàn mà số phận oan nghiệt như Điểm Bích (Tiếng gọi mùa xuân), An Tư (Mùa xuân kinh thành), Bích Châu (Sóng thần biển cả)... Điểm Bích tài nữ chỉ là phép thử đối với Huyền Quang, cuối đời bị giáng đi tu, An Tư tài sắc phải “cống nạp” cho Thoát Hoan, ái khanh Bích Châu làm mồi cho Hà Bá để thuyền vua Trần Duệ Tông có thể sóng yên biển cả đến đất Chiêm Thành và ngài vĩnh viễn ở lại đó. Có thể, chủ đề tài hoa bạc mệnh không mới trong văn học, nhưng khi viết về những tấm gương nghĩa liệt ấy, xúc cảm của nhà văn thực sự đã lây lan đến người đọc bởi tột cùng của vinh quang có khi cũng là tột cùng của bi kịch.
Biệt tài của Hữu Tuân là ở chỗ, ông viết về những “khúc quanh”, “góc khuất” của lịch sử mà ít gây đụng chạm. ấy là khi nhà văn viết về việc Hồ Quý Ly đã bức tử vua Trần Thuận Tông để tiếm ngôi nhà Trần (Hoàng hôn cung điện), sự ra đời đầy bi tráng của vua Lê Thánh Tông (Mùa xuân An Bang), gốc tích họ Mạc (Truyền thuyết họ Mạc ở Đông Triều)... Thật không dễ dàng gì khi bàn về số phận triều Trần và nhân vật Hồ Quý Ly, vai trò của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ với sự ra đời của vị vua tài danh trong lịch sử Đại Việt - Lê Thánh Tông, nguồn gốc của mộåt dòng họ bị đánh giá “tội nhiều hơn công” - họ Mạc. Và bản lĩnh ngòi bút của Hữu Tuân là ở đây: Ông đã từ những dữ kiện của quá khứ, thẳng thắn đối diện với chính sử để minh bạch lịch sử. Qua đó, người đọc thấy được quy luật hưng vong của thời đại, mẫn cảm thiên tài của Nguyễn Trãi, gốc tích xa xôi của một dòng họ.
Để chuyển tải được những vấn đề nhạy cảm và thú vị như trên, Hữu Tuân đã chọn cách trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật. Cách kể chuyện này tạo nên chất giọng đều đều cho câu chuyện nhưng lại đảm bảo được tính khách quan của lịch sử. Nhìn chung, chọn đề tài lịch sử là một thử thách lớn đối với người viết. Họ phải xử lý tốt mối quan hệ giữa văn và sử, đặt ra vấn đề giới hạn hư cấu, và trả lời cho câu hỏi như thế nào là nhận thức lại lịch sử.
Bằng tài năng và tâm huyết của mình, nhà văn Hữu Tuân đã xử lý nhuần nhuyễn những vấn đề trên. Chính vì vậy, lịch sử trong truyện Hữu Tuân đời hơn và người hơn. Mượn chữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhìn ở truyện dã sử, Hữu Tuân đã thực sự là một “hoá công” nhỏ, vì ông đã đưa được quá vãng đầy bi tráng ấy gần hơn với chúng ta và thực sự đã có một “tiểu lịch sử” qua cái nhìn của ông.