Từ khẩu hiệu trong cuộc Tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ năm 1936, “Kỷ luật và Đồng tâm” trở thành biểu tượng cho bản lĩnh, ý chí và tinh thần đoàn kết của những người công nhân Vùng mỏ. Qua các chặng đường lịch sử, vượt ra khỏi phạm vi một ngành nghề, “Kỷ luật và Đồng tâm” trở thành một giá trị văn hóa và nguồn sức mạnh nội sinh của Quảng Ninh.
Ngày 10/1/1840, vua Minh Mạng ban bức Dụ cho Tổng đốc hạt Hải Yên Tôn Thất Bật tổ chức khai thác than đá tại núi Yên Lãng vùng Đông Triều, nay thuộc phường Mạo Khê. Đây là một trong những dấu mốc sớm được ghi nhận về hoạt động khai thác than ở Quảng Ninh.
Đến cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa, hoạt động khai thác than ở Quảng Ninh được mở rộng với quy mô ngày càng lớn. Những vùng than ở Đông Triều, Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả… dần hình thành các mỏ, công trường, tuyến vận chuyển, bến cảng và khu dân cư. Vùng mỏ trở thành một trung tâm công nghiệp quan trọng, quy tụ đông đảo người lao động từ nhiều miền quê.
Trong điều kiện lao động nặng nhọc, nguy hiểm, đời sống thiếu thốn và bị áp bức, những người công nhân mỏ từng bước hình thành ý thức về sức mạnh tập thể. Từ những cuộc đấu tranh tự phát đòi quyền lợi, phong trào công nhân ở Vùng mỏ ngày càng phát triển từng bước trở thành một bộ phận quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam.
Ngày 23/2/1930, chỉ 20 ngày sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Khu mỏ Quảng Ninh được thành lập tại Mạo Khê với 5 đảng viên. Sau đó, các chi bộ ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông, Uông Bí - Vàng Danh tiếp tục ra đời. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân, tạo điều kiện để các cuộc đấu tranh của thợ mỏ ngày càng có tổ chức, có mục tiêu và gắn với phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Những năm 1930, đời sống công nhân mỏ vô cùng khắc nghiệt. Công việc chủ yếu dựa vào sức người, môi trường lao động nặng nhọc, nguy hiểm, trong khi tiền công thấp và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Sự áp bức, bóc lột ngày càng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa công nhân với chủ mỏ. Trong hoàn cảnh đó, phong trào đấu tranh của công nhân Vùng mỏ phát triển mạnh.
Đỉnh cao là cuộc Tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ ngày 12/11/1936. Từ Hòn Gai, Cẩm Phả đến Đông Triều, hàng vạn công nhân đã đồng loạt đứng lên đấu tranh. Dưới khẩu hiệu “Kỷ luật và Đồng tâm, chúng ta nhất định thắng”, những người thợ mỏ đã tạo nên một cuộc đấu tranh có quy mô lớn, có tổ chức và giành thắng lợi vang dội.
Điều làm nên sức mạnh của cuộc Tổng bãi công không chỉ là số lượng công nhân tham gia, mà quan trọng hơn là sự thống nhất về ý chí và hành động. Mỗi người biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, cùng giữ vững tổ chức, kỷ luật và cùng chia sẻ khó khăn. Từ đó, “Kỷ luật và Đồng tâm” trở thành giá trị cốt lõi trong văn hóa công nhân mỏ. Nếu “kỷ luật” tạo nên sức mạnh của tổ chức, thì “đồng tâm” tạo nên sự gắn kết giữa những con người cùng chung mục tiêu. Hai giá trị ấy bổ trợ cho nhau, trở thành điểm tựa để người thợ mỏ vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất.
Tinh thần ấy tiếp tục được tôi luyện trong những năm tháng đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ thành quả cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Vùng mỏ vừa là địa bàn sản xuất quan trọng, vừa là nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt để bảo vệ thành quả cách mạng.
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ngày 20/7/1954, Hòn Gai, Cẩm Phả và một số khu vực thuộc tỉnh Quảng Yên nằm trong vùng tập kết 300 ngày của quân đội Pháp. Trong thời gian này, thực dân Pháp và chủ mỏ tìm cách phá hoại, tháo dỡ, di chuyển máy móc, thiết bị và cưỡng ép người dân di cư. Công nhân và nhân dân Vùng mỏ đã kiên trì đấu tranh, bảo vệ lực lượng, bảo vệ máy móc, thiết bị và cơ sở sản xuất, chuẩn bị điều kiện để tiếp quản.
Cuộc đấu tranh giữ máy móc, thiết bị diễn ra quyết liệt. Cuối năm 1954, các đội bảo vệ máy được thành lập trong công nhân mỏ. Ngày 18/12/1954, công nhân Cẩm Phả ngăn chặn việc chủ mỏ định chuyển 12 hòm máy và một cần cẩu xuống tàu. Ngày 9/3/1955, công nhân Nhà máy điện Hòn Gai tiếp tục đấu tranh, không để chủ mỏ chuyển 8 động cơ vào miền Nam. Đến ngày 24/4/1955, công nhân Nhà máy Cơ khí Cẩm Phả kiểm soát số máy móc chủ mỏ định đưa đi, giữ lại được 3 máy. Những cuộc đấu tranh đó góp phần bảo vệ cơ sở vật chất của Khu mỏ, tạo điều kiện để khôi phục sản xuất sau ngày tiếp quản.
Ngày 24/4/1955, tên lính Pháp cuối cùng rời Khu mỏ. Đến 13 giờ cùng ngày, lực lượng quân sự và chính trị của ta tiến vào tiếp quản Hòn Gai. Sáng 25/4/1955, tại thị xã Hòn Gai diễn ra cuộc mít tinh trọng thể mừng Khu mỏ được giải phóng; Ủy ban Quân chính Hồng Quảng ra mắt trước nhân dân. Ngày 25/4/1955 trở thành Ngày Giải phóng Vùng mỏ.
Hòa bình lập lại ở miền Bắc, Vùng mỏ Quảng Ninh bước vào nhiệm vụ khôi phục sản xuất với nhiều khó khăn. Hệ thống mỏ, nhà máy, cơ sở sản xuất bị ảnh hưởng sau nhiều năm chiến tranh và sự khai thác của chủ mỏ thực dân. Trong đó, khôi phục sản xuất than có ý nghĩa quan trọng, bởi than là nguồn năng lượng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, góp phần xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Nếu trong những năm đấu tranh, “Kỷ luật và Đồng tâm” là sức mạnh để công nhân đoàn kết giành quyền lợi và bảo vệ quyền làm chủ, thì trong thời kỳ hòa bình, tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện bằng những nỗ lực khôi phục sản xuất, thi đua lao động, khắc phục khó khăn, từng bước đưa ngành Than phát triển.
Trong những năm tháng ấy, Quảng Ninh nhiều lần được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Đặc biệt, chiều 30/3/1959, Bác Hồ đến thăm công trường khai thác than Đèo Nai. Nói chuyện với cán bộ, công nhân mỏ, Bác căn dặn: “Than vùng mỏ vào loại tốt nhất của thế giới. Cảnh của Vùng mỏ vào loại kỳ quan của loài người. Các chú phải làm than cho tốt!”.
Lời căn dặn của Bác trở thành động lực để những người thợ mỏ tiếp tục thi đua lao động, nâng cao năng suất, thực hành tiết kiệm, làm chủ máy móc và khai thác tốt nguồn tài nguyên phục vụ đất nước.
Từ đây, “Kỷ luật và Đồng tâm” không chỉ hiện diện trong những cuộc đấu tranh mà còn được phát huy trong lao động sản xuất. Trên mỗi tầng than, trong mỗi đường lò, tại các nhà máy sàng tuyển, bến cảng, những người thợ mỏ hiểu rằng công việc của mỗi cá nhân gắn với công việc của tập thể và với nhiệm vụ chung của đất nước.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, Vùng mỏ vừa là hậu phương sản xuất quan trọng, vừa là địa bàn chiến lược bị địch tập trung đánh phá.
Ngày 5/8/1964, quân và dân Vùng mỏ đã làm nên Chiến thắng trận đầu, bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên trên miền Bắc. Những năm tháng khốc liệt đó, quân dân Quảng Ninh vừa bám trụ sản xuất, bảo vệ mỏ than, nhà máy, bến cảng, vừa kiên cường chiến đấu, góp sức cùng miền Bắc giữ vững hậu phương lớn, chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Nhưng đóng góp của Vùng mỏ không chỉ dừng lại ở đó; tháng 7/1967, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Trung ương cho phép tỉnh Quảng Ninh và ngành Than tổ chức một đợt tuyển quân quy mô lớn, hàng nghìn công nhân tình nguyện rời khai trường, lên đường vào Nam chiến đấu.
Chỉ trong 4 ngày, từ 27 đến 30/7/1967, tỉnh Quảng Ninh và ngành Than đã huy động, tuyển chọn gần 2.000 người, chủ yếu là thợ mỏ, cùng một số lực lượng khác, tổ chức thành 3 tiểu đoàn: 385, 386 và 9. Ngày 30/7/1967, Binh đoàn Than làm lễ xuất quân, lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam.
Tên gọi “Binh đoàn Than” không phải là phiên hiệu chính thức trong Quân đội nhân dân Việt Nam, mà là tên gọi chung của lực lượng gồm 3 tiểu đoàn được huy động trong đợt này. Tiểu đoàn 385 và 386 gồm những người thợ mỏ ở khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả; Tiểu đoàn 9 tập hợp quân số của nhiều ngành nghề, khoảng 900 người.
Rời những hầm lò, máy móc, những người thợ mỏ khoác lên mình màu áo lính, lên đường vào chiến trường. Tiểu đoàn 9 sau thời gian huấn luyện tại Đông Triều hành quân vào Kon Tum; Tiểu đoàn 385 và 386 huấn luyện tại Hòa Bình, đến tháng 12/1967 vào mặt trận Khe Sanh, Quảng Trị. Từ đây, những người lính Binh đoàn Than tiếp tục được bổ sung, biên chế vào các đơn vị và tham gia chiến đấu trên nhiều chiến trường.
Tại chiến trường, những người lính Binh đoàn Than đã lập nhiều chiến công. Có 112 người được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, cùng nhiều phần thưởng khác.
Đến mùa Xuân năm 1975, nhiều chiến sĩ Binh đoàn Than tiếp tục tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Trưa 30/4/1975, 50 chiến sĩ thuộc Binh đoàn Than được bổ sung cho Trung đoàn 28, theo mũi tiến công vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến thời khắc Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất.
Sau ngày đất nước thống nhất, Quảng Ninh bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất và xây dựng quê hương. Ngành Than tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong kinh tế Quảng Ninh và đất nước. Những thế hệ thợ mỏ tiếp nối nhau phát huy truyền thống “ Kỷ luật và Đồng tâm”, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn và thích ứng với những yêu cầu mới
Cùng với sự phát triển của ngành Than, Quảng Ninh từng bước hình thành nền kinh tế đa dạng với công nghiệp, dịch vụ, du lịch, cảng biển, logistics và nhiều lĩnh vực mới. Diện mạo đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo không ngừng đổi thay. Đằng sau những công trình, những con đường, những khu đô thị và những bước phát triển ấy là sự góp sức của nhiều thế hệ người Quảng Ninh.
Trong quá trình ấy, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” không mất đi mà tiếp tục được phát huy trong từng nhiệm vụ cụ thể. “Kỷ luật” là kỷ cương, trách nhiệm, tác phong và hiệu quả; “đồng tâm” là sự đồng thuận, chung sức, cùng hướng tới mục tiêu chung. Từ truyền thống của người thợ mỏ, những giá trị ấy tiếp tục lan tỏa, góp phần hình thành những giá trị văn hóa, con người Quảng Ninh.
Ngày 1/9/2026, Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố, mở ra một không gian phát triển mới. Đây là dấu mốc tiếp nối chặng đường gần hai thế kỷ xây dựng và phát triển của vùng đất. Từ Yên Lãng năm 1840 đến Quảng Ninh hôm nay, diện mạo đã đổi thay, nhưng tinh thần được hun đúc qua những năm tháng đấu tranh, lao động và xây dựng vẫn được tiếp nối. “Kỷ luật và Đồng tâm” vì thế không chỉ là ký ức của Vùng mỏ, mà còn là một giá trị văn hóa được các thế hệ hôm nay kế thừa và phát huy, góp phần tạo nên sức mạnh để Quảng Ninh bước vào chặng đường phát triển mới.
Thực hiện: Minh Nguyệt
Trình bày: Vũ Đức