Chủ động nguồn điện cho chặng đường phát triển mới

Chủ động nguồn điện cho chặng đường phát triển mới

Chủ động nguồn điện cho chặng đường phát triển mới

Từ một trung tâm nhiệt điện lớn của miền Bắc, ngành điện Quảng Ninh đang bước vào giai đoạn phát triển mới với cơ cấu nguồn ngày càng đa dạng, từ nhiệt điện truyền thống đến điện khí LNG, điện gió, điện mặt trời, điện rác, sinh khối và lưu trữ năng lượng. Cùng với đó, hệ thống truyền tải 500kV, 220kV được tính toán mở rộng theo những không gian công nghiệp, đô thị mới. Việc Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII vì thế không chỉ mở thêm dư địa phát triển nguồn điện, mà đang đặt nền móng cho một hệ thống năng lượng có quy mô lớn hơn, đa dạng hơn và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới.

t1.png
Phối cảnh Dự án Điện gió Quảng Ninh 1.

Phối cảnh Dự án Điện gió Quảng Ninh 1.

Theo Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Kế hoạch thực hiện, giai đoạn 2025-2035 (gọi tắt là Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII), trên địa bàn Quảng Ninh được quy hoạch 29 dự án nguồn điện với tổng công suất 10.186MW. Trong đó, giai đoạn 2025-2030 có 21 dự án, tổng công suất 3.502MW; giai đoạn 2031-2035 có 8 dự án với tổng công suất 6.684MW.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô công suất, mà ở sự thay đổi về cơ cấu nguồn. Quy hoạch đã dành không gian cho 700MW điện gió trên bờ, gần bờ; điện mặt trời tập trung; điện mặt trời mái nhà; điện rác, sinh khối, thủy điện, điện khí LNG, điện đồng phát và điện gió ngoài khơi. Riêng điện gió ngoài khơi được xác định 500MW trong giai đoạn 2025-2030 và 3.500MW giai đoạn 2031-2035.

Đáng chú ý, trong 21 dự án nguồn điện của giai đoạn 2025-2030, hiện đã có 6 dự án lựa chọn được nhà đầu tư, với tổng công suất 2.165MW, tương đương 61,8% công suất quy hoạch của giai đoạn.

Trong số này có Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh công suất 1.500MW tại Cửa Ông; Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1 công suất 200MW tại Hoành Bồ và Thống Nhất; Nhà máy điện gió Quảng Ninh 4 công suất 50MW tại đặc khu Cô Tô; Nhà máy điện mặt trời Đầm Hà công suất 100MW; Nhà máy điện rác tại Hạ Long công suất 15MW và các dự án nhiệt điện đồng phát tại KCN Hải Hà.

Đại biểu ấn nút khởi công Dự án Điện gió Quảng Ninh 1.

Đại biểu ấn nút khởi công Dự án Điện gió Quảng Ninh 1.

Ông Trần Quang Tuyến, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư xây dựng Cường Thịnh Thi cho biết: Chúng tôi vô cùng tự hào khi là doanh nghiệp đầu tiên được Quảng Ninh tin tưởng lựa chọn làm chủ đầu tư dự án điện gió Quảng Ninh 1. Tháng 4/2026, dự án đã chính thức được khởi công và đang đẩy nhanh công tác GPMB. Với tiến độ vận hành vào năm 2028, dự án sẽ cung cấp gần 600 triệu kWh điện sạch mỗi năm, đóng góp tích cực bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội theo hướng xanh và bền vững.

Nếu trước đây điện năng của Quảng Ninh gắn chủ yếu với than, thì trong quy hoạch mới, lợi thế về biển, gió, bức xạ mặt trời, không gian công nghiệp và hạ tầng cảng đang từng bước được chuyển hóa thành dư địa phát triển các loại hình năng lượng mới. Đặc biệt, cùng với nguồn điện tái tạo, bài toán lưu trữ năng lượng đã bắt đầu được đặt ra.

Theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, cả nước dự kiến tăng thêm khoảng 20.287MW pin lưu trữ trong giai đoạn 2025-2035 nhằm hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo, điều chỉnh phụ tải và nâng cao độ ổn định của hệ thống. Trên cơ sở đó, Công ty Điện lực Quảng Ninh đã đề xuất cập nhật các dự án pin lưu trữ BESS với tổng công suất 212,5MW, dự kiến lắp đặt tại các trạm biến áp 110kV hiện có trên địa bàn và vận hành trong giai đoạn 2026-2030. Đến thời điểm này, hệ thống đã được lắp đặt tại 3 trạm biến áp, gồm: Trạm biến áp Giếng Đáy với công suất 10MW/20MWh; Uông Bí, công suất 5MW/10MWh và Tràng Bạch, công suất 5MW/10MWh. Dự kiến toàn bộ hệ thống sẽ được hoàn thành, đưa vào vận hành trong quý IV/2026.

Cùng với đó, thành phố đang nghiên cứu, đề xuất bổ sung 8 dự án điện mặt trời với tổng công suất dự kiến từ khoảng 2.199-2.399MW vào Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII. Cụ thể: Nhà máy Điện mặt trời Quảng Ninh công suất 700MW; Nhà máy Điện mặt trời An Sinh 250MW; Nhà máy Điện mặt trời Sơn Dương 250MW; Nhà máy Điện mặt trời Tràng Lương 600MW; Nhà máy Điện mặt trời hồ Tràng Vinh 200MW; Nhà máy Điện mặt trời hồ Cao Vân 50-100MW; Nhà máy Điện mặt trời hồ Chúc Bài Sơn 100-250MW và Nhà máy Điện mặt trời công nghệ cao Uông Bí kết hợp nuôi trồng thủy sản công suất 49MW. Trong đó, Nhà máy Điện mặt trời Quảng Ninh có quy mô lớn nhất. Theo hồ sơ đề xuất, dự án có công suất nền phát lên lưới khoảng 700MW, kết hợp hệ thống điện mặt trời tổng công suất 4.000MW và pin lưu trữ dung lượng 8.800MWh. Khu vực nghiên cứu dự kiến khoảng 12.000ha tại Mông Dương, Cẩm Phả và Hải Hòa.

Phối cảnh dự án Nhà máy điện LNG Quảng Ninh.

Phối cảnh dự án Nhà máy điện LNG Quảng Ninh.

Riêng 4 dự án nhiệt điện than đang được đề xuất bổ sung có tổng công suất 5.940MW. Nếu các dự án này được xem xét phát triển, nhu cầu than dự kiến khoảng 18 triệu tấn/năm. Cộng với khoảng 19 triệu tấn phục vụ 7 nhà máy nhiệt điện hiện hữu, tổng nhu cầu có thể lên khoảng 37 triệu tấn/năm. Trong khi đó, năng lực sản xuất và nhập khẩu than của TKV và Binh đoàn 19 hiện khoảng 40-42 triệu tấn/năm. Bên cạnh điện gió, điện mặt trời, LNG và BESS, thành phố đang đề xuất bổ sung nghiên cứu các dự án thủy điện tích năng tại Hồ Yên Lập, Hải Hà, Tiên Yên và một số khu vực khác. Nếu được nghiên cứu, đánh giá và đưa vào quy hoạch trong tương lai, các nguồn tích năng có thể hỗ trợ điều tiết hệ thống khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng lên.

Một hướng nghiên cứu dài hạn khác là khả năng phát triển điện hạt nhân. Theo đề xuất của doanh nghiệp, khu vực Đầm Hà và Đường Hoa được đặt vấn đề nghiên cứu về điều kiện phát triển loại hình nguồn này trong tương lai. Tuy nhiên, đây mới là đề xuất nghiên cứu, việc phê duyệt vị trí, địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Trước mắt, vấn đề được thành phố đặt ra là rà soát hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất để tránh chồng lấn nếu có nghiên cứu trong những giai đoạn tiếp theo.

t2.png
Công nhân Xí nghiệp Lưới điện cao thế Quảng Ninh (Công ty Điện lực Quảng Ninh) trực vận hành tại Trạm biến áp 110kV Hoành Bồ.

Công nhân Xí nghiệp Lưới điện cao thế Quảng Ninh (Công ty Điện lực Quảng Ninh) trực vận hành tại Trạm biến áp 110kV Hoành Bồ.

Một thay đổi khác cũng đang diễn ra khá rõ khi việc Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII ngày càng gắn chặt với quy hoạch không gian phát triển kinh tế của thành phố.

Giai đoạn 2025-2030, Quảng Ninh được quy hoạch 27 dự án lưới điện, gồm 4 dự án lưới 500kV và 23 dự án 220kV. Sang giai đoạn 2031-2035 tiếp tục có 11 dự án, gồm 7 dự án 500kV và 4 dự án 220kV. Hệ thống này bao gồm cả xây dựng mới, cải tạo, nâng công suất các trạm biến áp và đường dây truyền tải. Hiện đã có 7 dự án truyền tải điện được triển khai, trong đó 3 dự án đang thi công và 4 dự án trong quá trình chuẩn bị đầu tư. Các công trình trải rộng từ khu vực phía Tây đến phía Đông thành phố, gồm các tuyến và trạm 220kV Yên Hưng - Nam Hòa, Cộng Hòa, Móng Cái, Hải Hà..., cùng các tuyến đấu nối phục vụ việc nâng khả năng truyền tải của hệ thống.

Việc mở rộng lưới điện không chỉ nhằm giải tỏa công suất của các nguồn điện mới. Mà quan trọng hơn là bảo đảm điện cho các khu công nghiệp, đô thị và những khu vực đang trở thành cực tăng trưởng mới của thành phố.

Điển hình là Khu kinh tế ven biển Quảng Yên. Theo quy hoạch chung được phê duyệt, khu vực này được định hướng phát triển thêm nhiều khu công nghiệp như Uông Bí, phía Bắc và phía Nam Đầm Nhà Mạc, phía Đông Sông Rút, phía Tây Sông Khoai. Chỉ tính Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Khu đô thị phức hợp Hạ Long Xanh, tổng nhu cầu công suất phụ tải tăng thêm trong giai đoạn 2026-2030 dự kiến khoảng 725MVA. Để đáp ứng nhu cầu này, từ nay đến năm 2035, ngành Điện dự kiến đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới khoảng 17 trạm biến áp 110kV; đến năm 2050 nâng tổng số lên khoảng 27 trạm. Đồng thời, Quảng Ninh đang đề xuất cập nhật vào quy hoạch các trạm biến áp 220kV Hiệp Hòa, Đầm Nhà Mạc, Hà An cùng hệ thống đường dây đấu nối đồng bộ.

Dự án nâng cao khả năng truyền tải hai tuyến đường dây 110 kV: Hải Hà – Quảng Hà – Texhong và Hải Hà – Tiên Yên hiện đã hoàn thành, đóng điện giai đoạn 1.

Dự án nâng cao khả năng truyền tải hai tuyến đường dây 110 kV: Hải Hà – Quảng Hà – Texhong và Hải Hà – Tiên Yên hiện đã hoàn thành, đóng điện giai đoạn 1.

Hay như tại khu vực Hải Hà – Móng Cái, nhằm bảo đảm điện cho các khu công nghiệp và tăng khả năng truyền tải cho các địa phương, khu vực này được bố trí các trạm 220kV Hải Hà 2, Móng Cái cùng các tuyến đường dây Hải Hà - Móng Cái, Biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Móng Cái. Riêng tuyến Hải Hà - Móng Cái có chiều dài khoảng 40km; tuyến Biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Móng Cái dài khoảng 15km. Cùng với đó là các công trình đấu nối và nâng khả năng truyền tải trong khu vực.

Trong khi đó, ở khu vực Hạ Long - Cẩm Phả, hệ thống điện được thành phố xác định vừa phải đáp ứng nhu cầu của một không gian đô thị, du lịch, dịch vụ lớn, vừa là nơi tập trung nhiều nguồn điện. Do đó, việc nâng công suất các trạm biến áp và tăng khả năng tải các tuyến Quảng Ninh - Hoành Bồ, Hoành Bồ - Tràng Bạch, cùng các tuyến đấu nối với những nguồn điện mới đã được đặt trong tổng thể đó. Theo quy hoạch, trạm biến áp 220kV Cẩm Phả được quy hoạch với công suất 500MVA; trạm Hoành Bồ cũng có công suất 500MVA. Trạm 500kV Quảng Ninh 2 được quy hoạch với công suất 1.800MVA, cùng nhiều tuyến đường dây 500kV và 220kV đấu nối.

Để trở thành điểm đến thu hút đầu tư thì khi những dự án công nghiệp và đô thị quy mô lớn hình thành, điện phải được chuẩn bị từ trước. Thực tế cho thấy, một khu công nghiệp có mặt bằng và nhà đầu tư nhưng hạ tầng điện chưa theo kịp sẽ khó có thể nhanh chóng đưa nhà máy vào hoạt động. Một đô thị mới có quy mô lớn cũng đòi hỏi nguồn cấp ổn định, dự phòng tốt và chất lượng điện cao hơn. Vì vậy, lưới điện không đơn thuần là hạ tầng kỹ thuật đi theo quá trình phát triển, ở nhiều khu vực, nó phải đi trước một bước để tạo điều kiện cho phát triển. Điều này càng quan trọng khi không gian kinh tế của thành phố ngày càng mở rộng, với nhiều khu công nghiệp, đô thị, trung tâm dịch vụ, logistics và các dự án có nhu cầu sử dụng điện lớn. Khi đó, năng lực cấp điện cũng trở thành một trong những điều kiện hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thu hút và giữ chân các dự án đầu tư.


Ông Đào Duy Linh, Trưởng phòng Quản lý năng lượng (Sở Công thương)

Để đưa các dự án đã có trong quy hoạch vào thực tế, đồng thời giải quyết sự đồng bộ giữa nguồn và lưới, từ đầu năm đến nay, thành phố cũng đã nhiều lần làm việc với các doanh nghiệp, yêu cầu các dự án đề xuất phải xác định rõ phương án đấu nối, khả năng giải tỏa công suất, tiến độ đầu tư và thời điểm vận hành. Đặc biệt, cần xem xét phương án tách lưới truyền tải mua điện từ Trung Quốc dự kiến từ TBA 220 kV Móng Cái qua đường dây 220 kV Hải Hà - Móng Cái đến TBA 220 kV Cộng Hòa và xem xét đến TBA 220 kV Nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả. Cùng với đó, thành phố cũng đã giao Sở Công Thương thuê đơn vị tư vấn để đánh giá tổng thể tiềm năng phát triển nguồn điện và năng lực hệ thống lưới điện trên toàn địa bàn.

Nhìn tổng thể, Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đang đặt ngành Điện trên địa bàn thành phố trước một yêu cầu mới, không chỉ bảo đảm đủ điện cho hiện tại, mà phải chủ động tính toán nguồn và lưới điện cho từng bước phát triển trong tương lai. Từ chỗ dựa nhiều vào các nhà máy nhiệt điện lớn, thành phố đang từng bước bổ sung các nguồn điện mới, đồng thời đầu tư, nâng cấp hệ thống đường dây, trạm biến áp 220kV, 500kV để đưa nguồn điện đến các khu công nghiệp, đô thị và những khu vực được xác định là động lực tăng trưởng mới. Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn hệ thống, hiệu quả đầu tư và môi trường ngày càng cao, cách tiếp cận này cho thấy thành phố đang lựa chọn những bước đi đầy khoa học trong bảo đảm nguồn điện để phục vụ cho sự phát triển lâu dài.

Thực hiện: Hoàng Nga
Trình bày: Hùng Sơn

Cùng chuyên mục