Người Hưng Học cho rằng vị thuỷ tổ nghề đan lát ngư cụ của làng chính là cụ Đặng Văn Đôn (quê ở Hải Dương), cụ tổ của dòng họ Đặng, một trong những dòng họ định cư sớm nhất ở vùng đất tổng Hà Nam xưa.
Những người dân di cư này quai đê lấn biển, thau chua rửa mặn làm nông nghiệp với phương thức ''lúa lấn cói, cói lấn cá, cá lấn biển''. Trong lúc nông nhàn, họ đã làm ra những công cụ để đánh bắt cá như lờ, đó, đăng, thuyền nan v.v... Điều đáng nói là để phù hợp với môi trường sống, điều kiện khai thác, các ngư cụ Hưng Học không ngừng thay đổi để thích ứng. Nhà nghiên cứu Vũ Diệu Trung, Viện Nghiên cứu văn hoá, nghệ thuật Việt Nam, cho rằng, đây là một trong những khía cạnh biểu hiện văn hoá dân gian vùng cửa sông ven biển.
Thuyền nan Hưng Học đã trở thành hàng hoá đem lại nguồn thu lớn cho người dân.
Lờ là loại ngư cụ dùng để đánh cá bớp, bống, song, mại, cua v.v... với 3 bộ phận chủ yếu là ống, vỉ và hom. Tuỳ vào từng loại cá cũng như vị trí đánh bắt, lờ cá luôn được thay đổi về cấu tạo, kích thước. Tiêu biểu như lờ cá song được cải tiến từ lờ cá diếc, to hơn, chắc chắn hơn.
Mỗi loại cá đều có những đặc tính riêng và ngư cụ dùng để đánh bắt chúng cũng có sự khác biệt. Nếu với các loại cá phàm ăn khi đánh bắt bằng lờ thì các loại cá thường nổi lên mặt nước sau khi ăn, hay bám dọc theo vật cản khi gặp chướng ngại vật, như cá rô, tôm v.v... thì lại phải dùng đó. Đó cá rô tuỳ theo vùng nước nông hay sâu mà có kích thước to hay nhỏ. Nếu so với chiếc đó cá rô vùng đồng bằng chỉ cao khoảng 1 cẳng tay, khi ra đến vùng cửa sông, ven biển, do nước sâu nên kích thước thường lớn hơn nhiều lần.
Làm thuyền nan là phức tạp nhất trong chế tác ngư cụ của người Hưng Học. Công đoạn kỳ công nhất là đan mê, sao cho các nan thuyền đều và khít nhau, sau đó là cạp thuyền và sơn thuyền. Thuyền nan Hưng Học ban đầu dùng để vận chuyển nông sản theo các kênh rạch, sau chủ yếu dùng để đi câu. Bởi vậy về cấu tạo, kích thước có điểm khác biệt. Thuyền đi câu có chiều dài lớn, chiều ngang nhỏ, nhằm cho thuyền lướt nhanh hơn. Nếu như những chiếc thuyền nan dùng để vận chuyển trên sông chỉ trát bằng sắn thuyền, một loại sơn tự chế đơn giản, thì với thuyền đi biển, sơn thuyền phải được làm từ hỗn hợp vỏ cây sòi, củ nâu, củ vẹt và phủ 3 lớp nhựa thông lên trên để chống thấm, chống mặn...
Theo nhận xét của nhà nghiên cứu Vũ Diệu Trung, sự chuyển đổi từ lờ cá diếc thành lờ cá song hay từ đó cá rô đồng thành đó vùng nước sâu cao, thuyền nan đi sông đến công nghệ sơn cầu kỳ cho thuyền ra khơi v.v... được coi là một trong những minh chứng của sự thích ứng với môi trường sống khi cư dân từ sâu trong nội địa tiến ra vùng cửa sông ven biển. Sự biến đổi thích ứng này không chỉ diễn ra ở những sản phẩm ngư cụ mà còn thể hiện trong chính văn hoá làng nghề. Theo thần tích và sắc phong tại đình Hưng Học, thành hoàng làng là cụ Lý Đạo Tái, quê gốc Hải Dương. Cụ đã từng tu đắc đạo tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Hàng năm, lễ hội đình, người dân chuẩn bị nhiều lễ vật dâng thánh, rước thành hoàng từ miếu về đình. Ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian, trong đó có hát đúm và hát chèo đường. Qua đây cho thấy người dân làng nghề Hưng Học luôn gìn giữ những tín ngưỡng của cư dân vùng châu thổ nhưng đã và đang có sự đan xen về văn hoá tín ngưỡng. Biểu hiện như lễ hội, ngoài tục hát đúm của những thôn nữ trên đồng, còn có hát chèo đường của những trai gái đi biển... Điều này tạo nên bản sắc riêng của tiểu vùng văn hoá cửa sông ven biển.