Trong lịch sử tân nhạc Việt Nam, có lẽ không có nhạc sĩ nào gây ra một tiếng nổ giai điệu mạnh mẽ đến thế trong thời khắc của khởi nghĩa 19-8-1945, mà lại có một đời thường lặng lẽ đến ngạc nhiên như nhạc sĩ Xuân Oanh.
Tác giả ca khúc bất hủ "Mười chín tháng Tám"- Cố nhạc sĩ Xuân Oanh Xuân Oanh sinh tại Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) vào cuối đông năm Quý Hợi 1923, trong một gia đình nghèo. Từ căn nhà ông ở ra tới cửa sông Bạch Đằng chỉ chừng vài mươi mét, nơi đã khiến cho những Hoàng Quý, Lưu Hữu cảm hứng lên những “Trên sông Bạch Đằng” hay “Bạch Đằng Giang”. Từ quê nhà, Xuân Oanh cất bước lên đường đến Hải Phòng để mưu sinh và học hành. Ở thành phố cảng này, Xuân Oanh đã gặp Nguyễn Đình Thi và Văn Cao. Nếu Nguyễn Đình Thi có sáng tác đầu tay về học sinh trường Bonnal (bây giờ là trường Ngô Quyền), Văn Cao có “Buồn tàn thu” thì Xuân Oanh bắt sự nghiệp sáng tác bằng giai điệu tưởng nhớ Hai Bà Trưng bên dòng sông Hát. Cả ba chàng “ngự lâm âm nhạc” sau đó đều “bật lên” Hà Nội để tiếp tục sự nghiệp. Giữa Kinh thành ngàn năm văn hiến, Văn Cao đã có “Tiến quân ca”, Nguyễn Đình Thi có “Diệt phát xít” đều vang lên ở Đại hội Quốc dân Tân Trào 13-8-1945 và tại Hà Nội chiều 17-8-1945 ở Quảng trường Nhà hát Lớn. Còn Xuân Oanh thì đến đúng ngày 19-8-1945, trong đoàn biểu tình hừng hực khí thế, đã xuất thần giai điệu về ngày khởi nghĩa với ca khúc bất hủ “Mười chín tháng Tám”. Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày Cứ thế, giai điệu cứ xô dạt trong tâm hồn Xuân Oanh theo khí thế sục sôi của đoàn biểu tình: Người Việt Nam đều thống nhất reo vang lời thề Ca khúc “Mười chín tháng Tám” đứng đầu cụm tác phẩm của Xuân Oanh được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Sau ngày lịch sử đó, Xuân Oanh đã ký âm những giai điệu xuất thần và đưa cho người bạn ở chợ Hôm tên là Vân Anh. Ngay lập tức, giai điệu ngày khởi nghĩa được khắc gỗ và in ra rải khắp Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Cũng ngay lập tức, “Mười chín tháng Tám” đã được hát vang khắp 36 phố phường Hà Nội. Sự kiện này cũng giống như sự kiện “Marseillaise” được in và phân phát tại Paris ngày 10-8-1792, ngày lực lượng khởi nghĩa đánh chiếm cung điện vua Louis XVI, cùng việc lật đổ chính quyền quân chủ. Vậy là trong ngày khởi nghĩa, ba chàng “ngự lâm âm nhạc” đã nã ba phát đại bác âm thanh gồm “Tiến quân ca”, “Diệt phát xít” và “Mười chín tháng Tám” thông qua quần chúng cách mạng, phá tan dinh lũy cuối cùng của chế độ thực dân, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa trên toàn cõi Việt Nam. Kháng chiến toàn quốc, Xuân Oanh lên chiến khu làm báo “Cứu quốc” cùng Tô Hoài, Nam Cao. Làm phóng viên nhưng Xuân Oanh vẫn viết nhiều ca khúc như “Đời vẫn tươi”, “Cây súng bạn đường”... và đặc biệt là “Quê hương anh bộ đội”. Ca khúc này được in ngay trên báo “Cứu quốc”. Ngược lại với không khí hừng hực ngày khởi nghĩa ở “Mười chín tháng Tám”, “Quê hương anh bộ đội” là những giai điệu tha thiết, thanh bình và đẹp như một bức tranh: Nơi ấy có con đường tắm nắng vàng tươi, bờ tre nhà gianh vách mới “Quê hương anh bộ đội” đã loang ra vùng tự do cả nước và được nhiều người mến mộ hát thầm trong vùng tạm bị chiếm. Chính trong những ngày thanh xuân ấy, Xuân Oanh đã gặp lại người yêu Xuân Uyên trên chiến khu. Họ đã phải cách xa nhau khi kháng chiến toàn quốc, người lên chiến khu, người ở lại hoạt động trong lòng địch. Bà Xuân Uyên bị địch bắt giam tại Tràng Tiền, rồi Hỏa Lò, mãi tới đầu 1950 mới được cứu thoát lên chiến khu. Và tại đây, cặp song Xuân đã tạo nên một gia đình đầm ấm giữa chiến tranh khốc liệt. Do có năng lực ngoại ngữ Anh, Pháp, nhạc sĩ Xuân Oanh được cử sang biệt phái quân đội và ở trong phái đoàn bốn bên những ngày hiệp nghị Geneve về hòa bình ở Việt Nam vừa được ký kết. Chính những ngày làm công tác giám sát thi hành hiệp nghị ở Đà Nẵng, nghe tin qua Đài Tiếng nói Việt Nam đường tàu lửa Hà Nội, Mục Nam Quan đã nối thông thành đường tàu liên vận qua Trung Quốc và Liên Xô cũ, Xuân Oanh cảm hứng ngay ca khúc “Hà Nội – Bắc Kinh – Mạc Tư Khoa” rất độc đáo một nhịp đi khỏe khoắn: Hà Nội – Bắc Kinh – Mạc Tư Khoa Có lẽ do định đoạt của số phận, từ ca khúc này, sau khi hoàn thành nhiệm vụ biệt phái quân đội, Xuân Oanh trở về cơ quan Mặt trận Tổ quốc và bắt đầu công việc của một cán bộ làm công tác đối ngoại, đấu tranh cho hòa bình thế giới. Sau những ngày tháng “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân” ngay góc hành lang cơ quan, Xuân Oanh và gia đình đã được phân một căn buồng vốn là hầm rượu của một bác sĩ người Pháp ở tòa biệt thự góc ngã tư Tràng Thi - Quán Sứ (nay là cơ quan Ban Tôn giáo Chính phủ). Và nhạc sĩ đã cư trú rất khiêm tốn tại hầm rượu này từ năm 1985 cho đến hôm nay. Chính tại đây, Xuân Oanh lại thiết tha lên một nhịp valse dịu dàng “Ca ngợi chế độ ta tươi đẹp” như con chim oanh mùa xuân hót chào mầm sống tơ non của trời đất: Như con chim xinh tung cánh bay khắp nơi nghe nhịp nhàng Nhạc phẩm “Ca ngợi chế độ ta tươi đẹp” của Xuân Oanh đã được giọng vàng của nữ nghệ sĩ Minh Đỗ hát rất truyền cảm trên làn sóng phát thanh.
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi khối dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung
Mười chín tháng Tám
Chớ quên là ngày khởi nghĩa
Hạnh phúc sáng tô, non sông Việt Nam.
Nơi ấy có cánh đồng mênh mông ngát hương, mùa lúa chín tiếng hát vang khắp đường...
Dập dìu này tiếng hát vui lên chan hòa
Nhịp đường mới tít chân trời xa xa
Về một cuộc sống sáng tươi bao la
Đời sống đang vươn lên trên đất Việt chúng ta
Trong tiếng cười trên cánh đồng bao la, nhà máy reo tiếng búa trong câu ca
Từ nay ta sống giữa tươi vui hạnh phúc
Muôn ngàn cánh tay đổi mới những xóm làng...
Giống như Văn Cao và Nguyễn Đình Thi, Xuân Oanh cũng rất đa tài. Ở căn buồng – hầm rượu chật chội thế, Xuân Oanh vẫn thu xếp được một góc riêng để vung cây cọ vào thế giới của màu sắc và đường nét. Tranh của Xuân Oanh luôn tươi tắn một màu sống lạc quan. Ngay cả bức ký họa chì than vẽ chân dung của người chị ruột tài hoa đoản mệnh bằng trí nhớ để làm tranh thờ cũng vẫn toát lên một sự thanh xuân đầy sức sống.
Từ sau năm 1995, khi người bạn đồng niên Văn Cao và người bạn đời Xuân Uyên từ trần, Xuân Oanh bắt đầu một giai đoạn sống cô đơn trong căn buồng cô độc thơm phức mùi rượu vang. Bằng nghị lực phi thường của người nghệ sĩ, Xuân Oanh vẫn vẽ và viết ca khúc, vẫn làm thơ và dịch thơ như quên thời gian đã bạc trắng mây trời. Ông vẫn cười vang giữa bè bạn tụ quần, giữa những âm thanh và những sắc màu nồng say khát vọng vô biên./.