Chuyện kể rằng, thời vua Lê Thái Tông, trong nước phải mấy phen đại hạn, rồi nước lụt và sâu bệnh làm hại mùa màng, dân tình đói khổ. Một mặt vua sức cho toàn dân làm kênh mương thuỷ lợi chống hạn, chống úng, mặt khác vua khuyến khích người dân đi khai khẩn, mở mang đất canh tác phát triển nông nghiệp.
Đọc văn tế tri ân các bậc Tiên Công.
Bấy giờ, và năm 1434, có mười bảy vị tiên công là người cùng quê ở phường Kim Hoa (nay là phường Kim Liên), huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, phía nam thành Thăng Long. Họ là những kẻ sỹ, những người lao động sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và đánh cá ven sông Kim Ngưu. Hưởng ứng lời kêu gọi khai canh lập ấp của vua Lê Thái Tông, họ đã rời bỏ quê hương, tìm miền đất mới thác thổ khai cương.
Mười bảy vị tiên công cùng gia đình xuôi theo dòng sông Hồng ra cửa sông Bạch Đằng (thuộc lộ Hải Đông) cắm thuyền, tìm đất. Thuở ban đầu, họ ở trên thuyền, sống bằng nghề đánh bắt cá, dãi chài, phơi lưới trên các đượng đất cao ở vùng cửa sông Bạch Đằng.
Vào một đêm, họ nghe thấy tiếng ếch kêu ở một gò nổi trên bãi triều và theo đó, tìm thấy mạch nước ngọt trên một đượng đất giữa xung quanh là nước mặn (sau gọi là Hồ Mạch). Bia Phong Lưu tứ xã Hồ Mạch ở miếu Tiên công có ghi: ''Tứ xã Phong Lưu có một cái hồ trên thượng đồng, tương truyền xưa kia, khi các bậc Tiên công bắt đầu mở mang làng xóm; đến vùng đó thấy có tiếng ếch kêu trong hồ cho rằng có nước ngọt, bèn dừng lại đắp đê ngăn biển mở rộng. Cái hồ thiên nhiên là do trời mang đến cho các Tiên công để đào giếng cày ruộng. Con cháu sau này gặp hạn khơi dưới hồ thấy có nhiều đá to, uống nước thấy ngọt như nước cam tuyền, mới biết đây là nơi phát nguyên của các bậc Tiên công''.
Mười bảy vị Tiên công quyết định cùng gia đình dừng lại ở bãi triều này khẩn hoang đất đai, cải tạo thành ruộng lúa, lập làng, vừa trồng lúa vừa đánh bắt hải sản. Đầu tiên họ lập nên phường Bồng Lưu, sau đổi thành xã Phong Lưu (gồm ba thôn: Phong Cốc, Cẩm La, Yên Đông, nay là xã Phong Cốc, xã Phong Hải, xã Cẩm La và làng Yên Đông cũ, xã Yên Hải huyện Yên Hưng). Thuở mới khai hoang lập đất, lập làng, các Tiên công chưa phải đóng thuế cho triều đình. Các gia đình ăn ở với nhau hoà thuận, coi nhau như anh em, trên dưới một lòng. Thời gian sau, con cháu sinh sôi, đất lành chim đến, nhiều người từ nơi khác đến ngụ cư. Họ tiếp tục khai hoang mở cõi, từ phường Bồng Lưu thành xã Phong Lưu rồi phát triển thành ba xã Cẩm La, Phong Cốc và Yên Đông. Con cháu dựng miếu thờ thập thất Tiên công, lập gia phả, tìm gốc xưa ở chốn cũ Thăng Long...
Và đúng như quy luật văn hoá; càng xa cội nguồn thì càng bảo lưu văn hoá nguồn cội, có thể nói rằng các thuần phong mỹ tục trong lễ nghi, hội hè, tang ma, cưới xin, trong ứng xử với thiên nhiên và cộng đồng làng xóm thuở xa xưa của người Thăng Long, giờ vẫn còn nguyên vẹn ở vùng tứ xã nơi cửa biển Đông Bắc của Tổ quốc: ''Văn hoá Thăng Long'' nguyên sơ vẫn còn hiện hữu nơi đây. Xã Phong Lưu có tới ba ngôi đình được xây dựng vào thế kỷ XVII quy mô to rộng, cổ kính vào loại bậc nhất trong cả nước: Đình Phong Cốc, đình Yên Đông, đình La. Đối trọng với ba ngôi đình là bốn ngôi chùa làng được xây dựng vào giữa thế kỷ XVI, nay vẫn còn. Đây là nơi dành cho quá nửa cư dân là các cụ bà đi lễ chùa. Người Thăng Long chuộng học hành, mỗi làng nơi đây đều có một văn từ để thờ Khổng Tử và những người học hành đỗ đạt, là nơi chăm lo cho việc học của làng. Các văn từ đều có bia “lịch triều khoa bảng” ghi những người đỗ đạt cho con cháu trong làng noi theo. Gia phả của dòng họ Nguyễn An Đông ghi lại từ đời thuỷ tổ đến đời thứ chín đã có 26 người học ở Quốc Tử Giám Thăng Long. Nhà ở, đặc trưng văn hoá Thăng Long cổ xưa, hiện hữu vùng cửa biển. Nhà gỗ kiến trúc kiểu ba gian hai chái buông; vì kèo theo kiểu chữ công, kẻ chuyền, đầu bẩy, có cửa giại, khuôn viên có nhà ngang, nhà bếp, sân gạch, tường hoa bó hè, vườn cây, cổng có mái lợp. Bài trí trong nhà có ngai bài vị thờ tổ tiên với các đồ thờ, câu đối đại tự sơn son thếp vàng khuyên dạy cháu con giữ gìn gia phong gia tộc, có hòm cái đựng bát đĩa phục vụ những ngày cúng giỗ. Phong tục tập quán, văn hoá cổ truyền của người Thăng Long được bảo lưu nguyên vẹn nơi đây. Đó là tín ngưỡng, hội hè nơi đình trung: lễ minh niên; lễ đại kỳ phước; lễ thay mã chầu; lễ tống cựu nghinh tân; lễ hạ điền, thượng điền; lễ kỵ ngày sinh, ngày hoá của Thành hoàng v.v... Đó là tín ngưỡng chùa làng: ngày đầu xuân, các già đi chùa hát đúm, lễ Phật, cầu cho con cháu và dân làng an khang vật thịnh; trai thanh gái tú đi thắp hương lễ phật cầu may. Mỗi độ tết đến xuân về, con cháu xa gần đều có lễ vật về từ đường chạp tổ và ra cỗ họ để truy ơn tổ tiên, nhớ về cội nguồn nơi Thăng Long phát tích. Tết cổ truyền, nét xưa của đất Hà thành vẫn được gìn giữ, các đồ thờ tự sơn son thếp vàng lại được chủ gia đình trang trọng lau chùi đánh bóng; hương trầm được thắp toả hương mời tiên tổ về ăn tết với cháu con; con cháu lại quây quần bên nồi bánh chưng; tục cúng giao thừa, xông nhà, mừng tuổi, cúng tiễn gia tiên của đất Hà thành vẫn được giữ gìn và luôn là nỗi nhớ của những người con xa quê.
Có lẽ độc đáo, tinh hoa nhất của người phường Kim Hoa, Hoài Đức, Thăng Long thành, ở nơi cửa biển là tục làm lễ thượng thọ và lễ hội Tiên công vào ngày mùng 6 và mùng 7 tết hàng năm. Vào ngày mùng 6 tết, các cụ ông, cụ bà tròn 80, 90, 100 tuổi, nhờ phúc ấm của tiên tổ, được trời ban cho thiên tước ''Cụ thượng'', con cháu tổ chức lễ mừng thọ tại gia đình. Cụ thượng được con cháu sắm cho áo thọ, được ngồi ghế thọ bên cạnh bàn thờ sống; người con trưởng đọc văn nhớ ơn cha mẹ, hứa với cha mẹ ăn ở thảo hiền, làm ăn tấn tới, nuôi dạy con khôn lớn trưởng thành; họ hàng dòng tộc, con cháu xa gần, bà con làng xóm tới lễ sống cụ thượng, chúc cụ thượng sống lâu trăm tuổi; cả một vùng tứ xã rộng lớn râm ran câu chúc, lời mừng; sáng hôm sau mùng 7 tết ngày chính hội, hàng vạn người trong vùng đổ về đây xem các đoàn rước cụ thượng về miếu Tiên công lễ tổ. Đi đầu đoàn rước cụ thượng là trống cà rình, cờ hội ngũ phương, bát biểu, đội nhạc nhị huyền bát âm, lễ vật, hương án, võng đào, theo sau là con cháu, dòng tộc. Cụ thượng vào miếu lễ Tiên công rồi thi đánh vật tượng trưng để răn dạy cháu con tinh thần thượng võ của đất Hà thành. Khu vực miếu thờ diễn ra nhiều trò chơi dân gian tạo nên một lễ hội lớn ở vùng Đông Bắc Tổ quốc. Lễ hội Tiên công năm Canh Dần 2010 được nhân dân vùng tứ xã tổ chức dịp vừa qua là hướng về Thăng Long - Hà Nội một ngàn năm tuổi...