Mới đây, trong chuyến điều tra điền dã khảo cổ học tại Ba Chẽ, tổ nghiên cứu của Bảo tàng Quảng Ninh đã tiến hành nghiên cứu thực địa di tích miếu Ông - miếu Bà và bước đầu xác định di tích này được xây dựng từ thời Trần.
Theo nhóm nghiên cứu, điều đặc biệt là di tích có nhiều dữ kiện cho phép đặt giả thiết liên quan đến cuộc hành quân chiến lược để tạo thế và lực chống quân Nguyên của vua tôi nhà Trần cuối tháng 2-1285…
Di tích miếu Ông.
Miếu Ông - miếu Bà ban đầu là đền thờ thần Tam Trĩ. Điểm xuất phát có thể là thờ thần núi (Sơn thần), thần sông (Mẫu Thượng Ngàn - Mẫu Thoải). Hiện vật của di tích còn lại có tháp đất nung thế kỷ X, nhiều mảnh gốm, sành, sứ thế kỷ XIII-XIV, 2 lư hương thời Hậu Lê, một chuông sắt thời Nguyễn, một số chân tảng cát kết nguyên là chân tảng của đền cũ, 2 bia đá, trong đó một bia ghi miếu Ông là Tam Trĩ linh từ, thờ Đức thánh phù Trần Tả tướng quân Lê Tự Đức. Hệ thống di tích này gồm 2 cụm di tích là miếu Ông và miếu Bà, nằm trong một quần thể thực vật bao gồm cây nguyên sinh, cây do con người trồng, khu vực núi đất phía sau còn có những giếng nước ngọt. Trong đó miếu Ông nằm trên một quả đồi nhỏ cạnh sông Ba Chẽ, gồm có 3 khu vực chính là cụm phế tích đền cổ, di tích miếu Ông hiện tồn và khu vực bến sông với vụng thuyền trong và vụng thuyền ngoài. Về vị trí, miếu Ông nằm cạnh cửa sông. Khu vực bến thuyền nước khá sâu, cho phép thuyền bè cặp bờ không phải phụ thuộc vào thuỷ triều. Kiến trúc miếu Ông hiện nay được xây bằng gạch, lợp ngói đỏ, theo kiểu chữ Đinh gồm bái đường và hậu cung, nằm trên khu đất rộng. Điều kỳ lạ là năm 2008 khi thị trấn Ba Chẽ bị cơn lũ lịch sử nhấn chìm, nước sông dâng cao gần 20m thì tại miếu nước lũ chỉ mấp mé sân, không ngập được vào trong. Trong khuôn viên miếu Ông còn có 2 mộ táng mà người dân cho là cách đây hơn 200 năm. Khu vực đền cổ kiến trúc hình chữ Nhất quay mặt hướng Đông nhìn ra biển. Theo người dân truyền tụng, do hướng Đông của đền chọc thẳng vào xã Đồng Rui (Tiên Yên) nên dân Đồng Rui sống không yên ổn, hay sinh cướp giật, loạn lạc. Vì vậy sau này đền đổi hướng Nam, từ đó dân Đồng Rui mới làm ăn, sinh sống được. Khu vực bến thuyền cổ là một bến tự nhiên, có thể đậu được nhiều thuyền khi nước lên. Hiện tại trên bãi vẫn còn nhiều mảnh sành, gốm sứ thế kỷ XIII- XIV.
Miếu Bà được xây dựng trên bờ trái của sông Ba Chẽ, đối diện với miếu Ông, theo kiến trúc 1 gian, hai mái, bít đốc. Một điều khá đặc biệt khi nghiên cứu thực địa tại di tích này, đó là có quá nhiều dữ kiện cho phép nghĩ đến giả thuyết liên quan sự kiện vua tôi nhà Trần đến sông Ba Chẽ năm 1285. Theo thư tịch cổ thì cuối tháng 2 âm lịch năm 1285 nhà Trần tổ chức một cuộc hành quân chiến lược để tạo thế và lực chống quân Nguyên. Ngày 1 tháng 3 âm lịch, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã đi qua sông Ba Chẽ, hai vua bỏ thuyền đi bộ đến Thuỷ Chú để tiếp tục hành trình vào Thanh Hoá. "...Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên (nay là sông Ba Chẽ), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa giặc... “Theo ông Trần Trọng Hà, Giám đốc Bảo tàng, Trưởng nhóm nghiên cứu, dữ kiện trùng khớp đầu tiên là những tháp đất nung có niên đại thế kỷ X. Đây là loại hiện vật thường thấy ở các di tích thời Lý - Trần. Một bến thuyền có thể chứa hàng chục chiếc thuyền lớn, trên mặt đất còn rất nhiều mảnh gốm, sành, sứ Việt Nam đời Trần, gốm sứ Trung Quốc có niên đại tương đương. 1 trong 2 bia đá nội dung ghi rõ miếu Ông thờ Đức thánh phù Trần, Tả tướng quân Lê Tự Đức. Ngoài ra miếu Ông nằm ở vị trí rất cơ động, dễ khống chế quân bộ. Di tích nằm trong quần thể thực vật trong đó có những loại cây do con người trồng như các loại cây thuốc và rau rừng. Phía sau còn có các giếng nước ngọt. Những đặc điểm trên tạo cho miếu Ông - miếu Bà vừa mang yếu tố phong thuỷ của một nơi thờ cúng tâm linh, lại có những tiêu chuẩn như một điểm nút giao thông quan trọng, cơ sở vị trí quân sự trọng yếu, nắm giữ yết hầu của dòng sông Ba Chẽ...
Di tích miếu Ông - miếu Bà hàm chứa nhiều hiện vật và các phế tích kiến trúc nguyên gốc, nhiều yếu tố khoa học được bảo tồn nguyên trạng. Bởi vậy cần được nghiên cứu, khoanh vùng bảo vệ, lập dự án tôn tạo và nếu đủ cơ sở dữ liệu, có thể lập hồ sơ xếp hạng di tích để gìn giữ và phát huy giá trị của nó.