Đến tháng 9/2026, hồ sơ sức khỏe điện tử của Quảng Ninh đã lưu trữ thông tin của hơn 1,4 triệu người dân, đạt 98,82% dân số, vượt mục tiêu năm. Dữ liệu được làm sạch, làm giàu đạt 94,35%. Quy mô hồ sơ cùng quá trình chuẩn hóa thông tin tạo cơ sở để theo dõi sức khỏe liên tục, từng bước nâng chất lượng chăm sóc và quản lý. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra là khai thác hiệu quả dữ liệu, giúp người dân giảm thủ tục, hỗ trợ bác sĩ điều trị và nâng cao năng lực quản lý của ngành y tế.
Trong chăm sóc sức khỏe, thông tin cần được nối tiếp qua mỗi lần khám, mỗi đợt điều trị. Một kết quả khám được cập nhật, một đơn thuốc được liên thông, một giấy chuyển tuyến được khai thác trên môi trường điện tử đều góp phần làm quá trình phục vụ thuận tiện hơn. Bởi vậy, xây dựng dữ liệu y tế phải gắn với khả năng sử dụng, lấy lợi ích của người dân làm thước đo.
Tại CDC Quảng Ninh, chỉ với một máy tính kết nối hệ thống, bác sĩ Bùi Thanh Nam (Khoa Phòng, chống bệnh truyền nhiễm) có thể khai thác dữ liệu từ Hệ thống thông tin tiêm chủng quốc gia. Dữ liệu được cập nhật, đồng bộ thống nhất trên toàn quốc, bao gồm cả tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng dịch vụ, giúp bác sĩ thuận lợi trong phân tích, dự báo tình hình, xây dựng kế hoạch và tham mưu triển khai nhiệm vụ chuyên môn.
Theo bác sĩ Bùi Thanh Nam, dữ liệu tiêm chủng số không chỉ hỗ trợ công tác y tế dự phòng, mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Nhờ thông tin được cập nhật và quản lý trên hệ thống, cha mẹ có thể tra cứu lịch sử tiêm chủng của con ngay cả khi thất lạc sổ tiêm bản giấy, qua đó chủ động theo dõi, bảo đảm trẻ được tiêm chủng đầy đủ.
Giá trị khai thác dữ liệu thể hiện rõ trước hết ở việc giảm giấy tờ. Ngành Y tế đã cắt giảm thành phần hồ sơ của 41 TTHC, thay thế bằng dữ liệu điện tử. Đây là chuyển biến có ý nghĩa thực chất, khi thông tin đã có được sử dụng lại, giảm yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải cung cấp nhiều lần. Cùng với việc đưa toàn bộ 155 thủ tục lên dịch vụ công trực tuyến toàn trình, tổng thời gian giải quyết theo quy trình được rút từ 2.180 ngày xuống 1.488 ngày, giảm 32%.
Trong khám chữa bệnh, dữ liệu cũng đang nối liền những khâu vốn gắn với nhiều loại giấy tờ. Có 220/222 cơ sở khám chữa bệnh BHYT sử dụng căn cước, hoặc VNeID thay thẻ BHYT. Toàn ngành liên thông hơn 19.000 giấy chuyển tuyến, hơn 74.000 giấy hẹn khám lại; gần 9,9 triệu đơn thuốc điện tử được liên thông với Hệ thống đơn thuốc quốc gia. Những con số này phản ánh việc dữ liệu từng bước đi vào quy trình phục vụ, hỗ trợ tra cứu, đối chiếu và tiếp nối thông tin khám chữa bệnh.
Bác sĩ CKII Phạm Thị Út Trang (Bệnh viện Bãi Cháy) chia sẻ: "Việc xây dựng, hoàn thiện và liên thông các hệ thống dữ liệu y tế góp phần chuẩn hóa thông tin, nâng cao chất lượng quản lý, đồng thời giúp các cơ sở y tế phục vụ người bệnh ngày càng thuận tiện, hiệu quả hơn. Đặc biệt, khi dữ liệu y tế đã được kết nối từ nơi phát sinh, nhất là tuyến y tế cơ sở".
Hiện toàn bộ 169 cơ sở có phần mềm khám chữa bệnh, gồm 28 bệnh viện, phòng khám đa khoa và 141 trạm y tế, đã liên thông với hệ thống quản lý sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Việc kết nối này tạo điều kiện nối tiếp thông tin giữa các tuyến, phục vụ theo dõi sức khỏe ngay tại cộng đồng. Với những lĩnh vực cần quản lý thường xuyên như tiêm chủng, chăm sóc bà mẹ, trẻ em, tính liên tục của dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, theo chia sẻ của bác sĩ CKII Trịnh Văn Mạnh, Phó Giám đốc Sở Y tế, hiện nay trong khi hồ sơ sức khỏe điện tử đã bao phủ 98,82% dân số, nhưng tỷ lệ người dân có Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID mới đạt 33,9%. Lý do là dữ liệu đã chuyển lên Cổng dữ liệu sức khỏe của Bộ Y tế vẫn chưa đồng bộ đầy đủ sang VNeID. Ngành chưa được cấp tài khoản theo dõi trực tiếp, chưa có danh sách công dân chưa tích hợp theo địa bàn. Điểm nghẽn này đòi hỏi phối hợp chặt chẽ giữa ngành Y tế, Công an và chính quyền cơ sở, làm rõ dữ liệu đang vướng ở khâu nào để xử lý đến đó.
Cùng với liên thông, chất lượng thông tin phải được bảo đảm thường xuyên. Hiện vẫn còn gần 52.000 hồ sơ tiêm chủng không có dữ liệu đối chiếu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; cơ sở dữ liệu khám chữa bệnh mới có 764/839 cơ sở đăng ký tài khoản, đạt 91,06%. Dữ liệu thiếu, sai, hoặc chậm cập nhật sẽ hạn chế khả năng khai thác, ảnh hưởng độ tin cậy khi sử dụng. Vì thế, làm sạch dữ liệu cần trở thành trách nhiệm hằng ngày của từng đơn vị, gắn với đầu mối cụ thể và quy trình kiểm tra rõ ràng.
Theo Sở Y tế, trong giai đoạn tiếp theo, nguồn lực đầu tư cũng cần tập trung vào khả năng kết nối, vận hành và bảo vệ dữ liệu. Phần mềm phải trao đổi được thông tin; trạm y tế phải có điều kiện cập nhật liên tục; cán bộ phải đủ năng lực quản trị, khai thác. Đồng thời, thông tin sức khỏe cá nhân cần được bảo vệ bằng việc kiểm soát quyền truy cập, lưu vết sử dụng và bảo đảm an toàn hệ thống.
Quảng Ninh đã có nền tảng dữ liệu y tế với độ bao phủ lớn. Bước tiếp theo cần được đánh giá bằng những kết quả cụ thể: Người dân giảm được bao nhiêu giấy tờ, thông tin được sử dụng lại đến đâu, dữ liệu hỗ trợ điều trị và quản lý ra sao? Đó cũng là cách đưa thành quả chuyển đổi số đến gần hơn với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.