Hiếm có ngôi làng nào trên đất Quảng Ninh lại chứa đựng trong mình nhiều điều thú vị như làng Quan Lạn xưa (nay là xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn).
Quan Lạn từng được gọi là làng Cả, bởi có diện tích rộng nhất, đông dân nhất và đời sống sung túc, giàu có nhất vùng. Là một ngôi làng biển nhưng nơi đây vẫn đầy ắp dấu ấn của một làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đó chính là sự ghi nhớ về nguồn cội của những người nông dân Thanh Hoá từ xa xưa đã về đây ngăn sóng lập ấp, tạo nên xóm làng, trở thành lớp cư dân đầu tiên của đảo. Điều này thể hiện ở hệ thống các di tích văn hoá trên địa bàn. Đó là những đình, chùa, là hình bóng của cây đa, giếng nước, sân đình... rất đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ. Đó là những nghè, miếu thờ những nhân thần hiển linh đối với người nơi đây. Quan Lạn ngày nay may mắn còn lưu giữ hầu hết những đặc trưng đó với hàng chục di tích văn hoá.
Từ lâu, dịp kỷ niệm chiến thắng Vân Đồn (1288) của quân dân nhà Trần luôn được người dân Quan Lạn tưởng nhớ và tổ chức các hoạt động lễ hội.
Trước hết phải kể đến đình Quan Lạn. Theo nhà nghiên cứu văn hoá Đỗ Văn Ninh, đình vốn có quy mô to nhất đảo với 7 gian 2 chái xép, có 8 vì kèo chính và 2 vì kèo phụ. Loại gỗ làm đình là gỗ Mần Lái, bền chắc như gỗ Lim nhưng lại phù hợp với hơi nước biển hơn. Vị trí đình nằm cạnh một bến thuyền tấp nập, tiện lợi cho những sinh hoạt tập trung đông người. Trong một nghiên cứu về Vân Đồn, TS Lê Hồng Lý, Viện Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật Việt Nam đã lý giải về nguyên do của việc người xưa chủ tâm xây dựng đình Quan Lạn lớn như vậy. Đó không hẳn là bắt nguồn từ ý thích đơn thuần của những người xây dựng, mà ẩn vào đó là nỗi niềm của những người con tha hương nhớ về quê cũ và một nỗi sợ hãi mơ hồ trước biển cả bao la. Theo TS Lý, họ hy vọng ngôi đình lớn sẽ là ngôi nhà vững chắc cho những vị thần được thờ trong đó toàn tâm bảo hộ cho họ trước thiên nhiên khắc nghiệt. Đồng thời cũng là mái nhà chung của cộng đồng, mỗi dịp lễ tết lại quần tụ, chung lưng đấu cật giải quyết những vấn đề to lớn của làng xã. Rồi những lúc hội hè, đình làng lại là chỗ nghỉ ngơi giải trí, củng cố niềm tin cho mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Trái với đình Quan Lạn, chùa Quan Lạn nằm tĩnh lặng ở một khu đất nhỏ. Sự hiện diện của công trình này dường như chỉ để hoài niệm về những ngôi chùa lớn ở sâu trong đất liền, nơi chôn nhau cắt rốn của lớp cư dân đầu tiên trên đảo. Ngày nay, với tín ngưỡng thờ phật phát triển sâu rộng hơn, người dân Quan Lạn đã dành sự quan tâm cho chùa. Cùng với đó, những di tích văn hoá có ý nghĩa không kém phần quan trọng trong đời sống người dân Quan Lạn, nhất là người dân làm nghề biển đó chính là những nghè, miếu. Như đã nói ở trên, những di tích này thờ những vị thần là người thật hoặc một nhân vật huyền thoại nào đó thường xuyên hiển linh trợ giúp những người đi biển tai qua nạn khỏi, tránh được những cơn bão lớn. Mặc dù có khá nhiều những nhân sĩ, quan lại có nhiều công lao đối với nhân dân hay tạo dựng được những chiến công hiển hách ở Quan Lạn, thế nhưng vị nhân thần được thờ ở nghè miếu chỉ có duy nhất Trần Khánh Dư. Riêng nhân vật này có đến 2 di tích tôn làm chủ thần đó là nghè và miếu Đức Ông. Theo sử sách, Trần Khánh Dư đã nhiều lần tham chiến trên dải đất Vân Đồn, trong đó trận chiến nổi tiếng nhất đó chính là đánh tan đoàn thuyền lương tiếp viện của Trương Văn Hổ, một tên tướng hét tiếng gian mưu của đội quân xâm lược Nguyên Mông. Công lao của ông luôn được người dân Quan Lạn khắc ghi, tưởng nhớ. Hàng năm, vào ngày hội làng, người dân lại rước ngai và tượng của ông ra đình Quan Lạn.
Ngoài nghè, miếu Đức Ông, làng Quan Lạn xưa còn có miếu thờ riêng Tứ vị Thánh Nương. Giống như mẫu Liễu Hạnh luôn phù trợ cho những người nông dân ở trong đất liền và ở các triền sông thì Tứ vị Thánh Nương lại dành nhiều nhất tình thương của mình cho những ngư dân ngày đêm đánh cá trên sông hay làm nghề vận tải biển. Đồng thời, Quan Lạn còn miếu thờ công chúa Lý Công Hoa ở thôn Trung, miếu Cao Sơn ở sườn núi Động Đồn, miếu Đông Hồ, miếu Sao Ỏn... Tất cả những di tích văn hoá này, ngoài việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cho dân làng còn là nơi diễn ra những sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Quảng Ninh có không ít những ngôi làng biển cổ mang nhiều giá trị văn hoá. Thế nhưng việc lưu giữ và phát huy giá trị hàng chục di tích văn hoá trên địa bàn như ở Quan Lạn thì không phải nơi nào cũng làm được.