Trong nuôi trồng thủy sản (NTTS), con giống có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và tính bền vững của hoạt động sản xuất. Vì vậy, Sở NN&MT xác định chủ động nguồn giống thủy sản chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng và phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, tạo nền tảng phát triển NTTS theo hướng hàng hóa, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị sản phẩm.
Với mặt biển rộng, bờ biển dài, nhiều vùng cửa sông, bãi triều… Quảng Ninh có lợi thế nổi bật để phát triển nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế. Những năm qua, NTTS ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành, trong đó có các đối tượng chủ lực như tôm, cá biển và nhuyễn thể.
Tuy nhiên, một trong những điểm nghẽn là năng lực sản xuất giống tại chỗ đối với một số đối tượng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu; nguồn cung còn phụ thuộc vào các tỉnh, thành phố khác, trong khi chất lượng và khả năng thích nghi của con giống ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng, thời gian nuôi và chi phí sản xuất.
Theo tính toán của Sở NN&MT, hiện tại nhu cầu về giống thủy sản hằng năm của Quảng Ninh là hơn 7 tỷ con giống các loại. Toàn thành phố đang có 19 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản theo quy định. Các cơ sở này đang cung ứng 100% nhu cầu giống tôm, khoảng 90% giống thủy sản nước ngọt, tập trung các giống cá mè, trôi, trắm, chép… và khoảng 35% giống cá biển và nhuyễn thể.
Ông Lưu Thế Phương, Phó Trưởng Phòng NTTS Chi cục Biển, Hải đảo và thủy sản, Kiểm ngư (Sở NN&MT) cho biết: Nếu như trước năm 2020, thiếu giống tôm nuôi là điểm nghẽn của NTTS Quảng Ninh thì sự thành công trong việc sản xuất tôm giống tại chỗ và lần lượt cho ra đời những giống tôm ưu việt, phù hợp với địa phương của Công ty TNHH Việt - Úc Quảng Ninh đã tháo gỡ điểm nghẽn này của thành phố. Về giống thủy sản nước ngọt, theo xu hướng phát triển thực tế, nhu cầu phát sinh trên địa bàn không cao, nên không đặt ra vấn đề thiếu giống. Tuy nhiên đối với nhuyễn thể và cá biển, với khả năng đáp ứng như hiện nay của Quảng Ninh chỉ đạt khoảng 35% là đang thiếu và yếu.
Để bù đắp cho giống nhuyễn thể và cá biển đang thiếu hụt trên địa bàn, các cơ sở NTTS đã nhập từ các tỉnh, thành phố khác. Trước thực tế đó, Sở NN&MT chỉ đạo các địa phương, đơn vị chuyên môn và các ngành liên quan tăng cường phối hợp kiểm tra, kiểm soát hoạt động mua bán, vận chuyển giống thủy sản; chú trọng kiểm tra hồ sơ nguồn gốc, giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng và chất lượng con giống theo quy định… Qua đó hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất thủy sản trên địa bàn thành phố.
Theo ông Nguyễn Như Hạnh, Phó Giám đốc Sở NN&MT, đơn vị đang tiếp tục rà soát, tham mưu UBND thành phố ban hành, hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư mới, mở rộng quy mô sản xuất giống thủy sản; thúc đẩy ứng dụng KHCN, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và nhân rộng những mô hình sản xuất giống chất lượng cao, an toàn sinh học, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đặc biệt, Sở NN&MT đã cụ thể hóa trong đề án “Thực hiện chương trình nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp Quảng Ninh giai đoạn 2022-2030” được phê duyệt theo Quyết định số 3030/QĐ-UBND ngày 17/10/2022 của UBND thành phố.
Cùng với đó, Sở NN&MT khuyến khích các cơ sở giống thủy sản chuyển từ phát triển nguồn giống theo từng cơ sở riêng lẻ sang tổ chức sản xuất và cung ứng giống đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, liên kết và dựa trên nhu cầu thực tế. Công tác quản lý giống thủy sản của sở cũng chuyển dần từ phương thức theo dõi phân tán sang quản lý dựa trên dữ liệu, qua đó, cơ quan quản lý có thể chủ động đánh giá nguy cơ thiếu hụt giống theo mùa vụ, xác định nhóm đối tượng cần ưu tiên phát triển, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng và nguồn gốc giống lưu thông trên thị trường.
Mục tiêu của Quảng Ninh là từng bước chủ động nguồn giống thủy sản có chất lượng, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài đối với những đối tượng có điều kiện sản xuất tại chỗ; phát triển các loài có giá trị kinh tế và lợi thế địa phương, đồng thời xây dựng hệ thống sản xuất, cung ứng giống thủy sản chuyên nghiệp, minh bạch, gắn với nhu cầu thị trường.