Văn chương của Trần Tâm đọc là thấy đau đáu một tấm lòng với người thợ mỏ, với Vùng than Cẩm Phả...
Ông từng là một người thợ, bây giờ cũng vẫn đậm chất thợ, thô phác, mộc mạc mà chân tình. Trò chuyện lan man với ông, câu chuyện dần đã hướng về những trăn trở của ông với người công nhân và những sáng tác viết về họ hôm nay…
- Xin chúc mừng ông với tập thơ Mưa xanh vừa đoạt giải B Giải thưởng Văn học đề tài công nhân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ông có thể nói đôi chút về sáng tác này?
Nhà văn Trần Tâm.
+ Tôi viết Mưa xanh quãng năm 2000, thời điểm mà nạn ô nhiễm môi trường ở Vùng than có lẽ là khủng khiếp nhất. Từng là một người thợ, tôi hiểu nỗi khao khát của người công nhân về sự trong sạch môi trường là thế nào, vậy nên tôi muốn nói điều ấy, muốn có những giọt mưa xanh cho những người lao động vùng than vất vả...
Hồi ấy, mắt tôi gần như đã bị mù, tập thơ phải nhờ người chép lại và đưa đi in hộ. Khi tôi chữa xong mắt thì tập thơ ra đời. Tôi những tưởng đây là tập thơ cuối cùng của đời mình rồi!
- Vậy mà nghe đâu ông đang viết một tiểu thuyết dài về người công nhân?
+ Đó là tiểu thuyết Miền đất bỏng tôi vừa viết xong bản thảo, dài khoảng 1.600 trang in, chia làm 4 tập. Tôi viết về vùng Cẩm Phả từ quãng năm 1883 đến nay. Thật ra, ý tưởng thì có từ lâu rồi, quãng năm 84, 85 cơ và tôi đã viết dạng trường ca với tên là Vầng sáng trước bão (về giai đoạn đình công năm 1936). Trong đó có những chi tiết rất thích về bàn tay người công nhân như: Xoè bàn tay bắt gặp anh em/ Khi nắm lại kẻ thù sợ hãi... Sau rồi tôi chuyển sang văn xuôi vì sợ thơ không tải hết được, lại khó bởi làm thơ phải tuỳ vào cảm xúc, không giống viết văn như anh thợ cày, đi cày thế nào cũng có sản phẩm.
- Viết dài như vậy, có khi nào ông thấy đuối không, phần nào ông thấy ưng nhất?
+ Gia đình tôi 5, 6 đời làm công nhân, tôi cũng làm thợ từ năm 1968, lại nghe mọi người kể nữa nên viết xong vẫn thấy thoải mái, dư thừa về vốn sống. Tôi có thể chắc chắn rằng, sau này, nếu ai cần tìm tư liệu cũ về Cẩm Phả thì thể nào cũng phải sờ đến cuốn này. Bởi, nhiều địa danh tôi viết trong này, ngay dân Cẩm Phả bây giờ nhiều người cũng không biết ở đâu, như núi Son, núi Cốt Mìn chẳng hạn.
Phần viết từ sau đổi mới đến nay tôi thích nhất nhưng lại cứ có cảm giác “không ổn” trong tư tưởng (mà cảm giác của người viết nhiều khi chính xác lắm). Vì thế, tôi mới dừng lại, sắp tới sẽ sửa kỹ…
- Ông có thể nói rõ hơn sự “không ổn” ấy là gì không?
+ Cũng thật khó chỉ ra một cách rạch ròi! Nó giống như là sự phân vân, chưa lý giải được về nhiều vấn đề của xã hội trong quá khứ và trong hiện tại… Thế hệ chúng tôi được bao cấp toàn vẹn nhưng làm việc vì những thứ lớn hơn mình, hòn than làm ra là danh dự, là máu thịt, giờ hòn than chỉ là phương tiện để phục vụ cuộc sống, chỉ vì bản thân mình. Tôi nhớ, ngày xưa người ta sống với nhau bằng tình cảm nhiều hơn chứ không như bây giờ. Đó là suy nghĩ cứ trở đi trở lại trong tôi. Có thể khi đọc tác phẩm thì cảm nhận của mỗi người sẽ khác nhau...
- Ý ông là sự thay đổi các quan hệ trong mỏ đã khiến ông có tâm trạng “bất ổn”?
+ Nói gì thì nói chứ Cẩm Phả từ vùng đất gần như chẳng mấy người biết đến nay thành thị xã công nghiệp than là một bước tiến lớn, cả cuộc sống Vùng mỏ đi lên. Nhưng, mặt trái của nó cũng lớn quá, cuộc sống nhiều chiều quá. Ý lớn bao trùm tác phẩm là ước mơ không với tới, con người ta càng cố vươn tới một cái gì đấy nhưng khi đến nơi thì lại không phải như thế. Lớp công nhân đầu tiên của Vùng mỏ là người nông dân thoát ly đồng ruộng thôi. Họ chỉ mong kiếm đủ miếng ăn nhưng cuối đời vẫn không đủ ăn. Họ làm cách mạng để làm chủ nhưng cuối cùng thì vẫn bấp bênh. Rồi sự phân tán trong công nhân, lớp trẻ có học hành thì lại không muốn về mỏ vì không được tạo điều kiện. Lớp người cũ lại sợ lớp trẻ với kiến thức mới sẽ đào thải mình. Và đến khi làm chủ mỏ là những người có đầy đủ kiến thức và tâm huyết thì lúc ấy mỏ lại hết than... Đấy, người ta cứ ước mơ thế rồi cuối cùng không ai thực hiện được.
- Có vốn sống dồi dào như vậy nhưng có lần ông đã tự nhận là mình viết về lớp công nhân hôm nay... không tới?
+ Tôi nghĩ, mỗi lớp tác giả lại có một thế hệ bạn đọc riêng. Lớp như tôi hưởng những quyền lợi của hôm nay nhưng bản chất vẫn là lớp người cũ, những cái cũ đã thấm vào máu thịt, không thay đổi được.
- Khi tiếp cận tư liệu về lớp công nhân hôm nay, ông thấy khó điều gì?
+ Tôi từng lê la các đầu đường nói chuyện với những người nhặt than nhưng họ chỉ là một bộ phận nhỏ trong công nhân thôi. Còn đến với lớp công nhân trẻ, chúng coi mình là người ngoài, là lớp cha chú rồi, những vui buồn, lo toan, áp lực cuộc sống, công việc chúng nó không tâm sự với mình. Trong tầng lớp nào cũng có những mâu thuẫn trong sản xuất, sinh hoạt không dễ nắm bắt được đâu. Xa rời môi trường của mình thì sáng tác của họ cũng... chết theo.
- Liệu có phải ông không bắt kịp với cuộc sống người công nhân hôm nay không?
+ Bản thân tôi cũng nghĩ mình lỗi thời, chính xác hơn là không tiếp nhận được đầy đủ những cái mới, dù nó vẫn vào. Nhưng cái nhìn toàn diện thì không còn nữa.
- Ông nghĩ sao khi trước kia đời sống khó khăn thế vẫn có cả một lớp nhà văn trưởng thành từ công nhân mà giờ thì hiếm đến vậy?
+ Tôi nhớ nhà văn Hoàng Văn Lương, anh ấy viết rất khổ, vừa quạt vừa viết, lại còn bị bệnh hen nữa, thế mà sáng tác vẫn cứ trong trẻo như thường. Mà người sáng tác ở mỏ lại hay bị dè bỉu chứ, họ chịu sự cô đơn đến tận cùng... Xin giấy tờ đi trại sáng tác thì dềnh dàng mãi mới làm, lại thường kèm theo một câu: Thôi, ông chuyển luôn lên đấy mà sáng tác đi. Việc của chúng tôi là làm than chứ có phải là làm thơ, làm văn đâu...
Lớp trẻ bây giờ thấy con đường cha anh đi trước chông gai quá hay sao ấy cho nên không theo đuổi nữa, có chăng cũng là làm ở văn phòng rồi chứ hiếm khi là lao động trực tiếp. Cộng với áp lực cuộc sống có lẽ cũng làm họ không còn quan tâm đến văn chương(?). Tôi bảo đứa cháu nội là lớn đi viết văn với ông thì mẹ nó bảo: Không ông ạ, đi viết văn thì đói lắm!
- Thế thì chuyện thiếu vắng các sáng tác về người công nhân cũng là tất yếu thôi...?
+ Cũng không hẳn, bây giờ, mọi việc khá sòng phẳng. Khi cần, người ta lại thuê các nhà văn về mỏ đi thực tế một hai tuần rồi viết. Nhưng tôi nghĩ, viết về công nhân phải là chính người công nhân. Người ngoài viết, dẫu có tài đấy nhưng cái tâm họ không để vào người thợ, lo lắng của họ không phải cái lo lắng của người thợ... thì tác phẩm không thể sâu được!
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!