Võ Huy Tâm - Thơ thợ mỏ

Nói đến nhà văn Võ Huy Tâm, người ta nghĩ ngay đến mảng văn xuôi, với những tiểu thuyết, truyện ngắn nổi tiếng của ông, như "Vùng mỏ" (tiểu thuyết đạt giải nhất Giải thưởng Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951-1952), "Chiếc cán búa" (Giải nhất truyện ngắn Báo Văn Nghệ), rồi tiểu thuyết "Những người thợ mỏ" và nhiều tác phẩm khác in trong tập "Hòn gạch chịu lửa" v.v...

Võ Huy Tâm - Thơ thợ mỏ ảnh 1Thế nhưng ít người biết Võ Huy Tâm cũng là người làm rất nhiều thơ. Chỉ có điều thơ ông khá là... đặc biệt!

Nhà văn Tô Hoài, trong hồi ký của mình, khi nhắc đến Võ Huy Tâm, có kể lại một câu chuyện vui, rằng trong một lần "chén chú chén anh" với nhau, nhà văn Võ Huy Tâm hỏi: -Cũng miếng thịt trong con lợn, nhưng cái ngon chỗ này, chỗ kia khác nhau, anh thấy thịt lợn chỗ nào ngon nhất? Nhà văn Tô Hoài chưa biết trả lời thế nào thì nhà văn Võ Huy Tâm bảo: -Chỉ cái tai là khoái nhất. Cái tai lợn nhá sướng răng đến không chịu được. Cái tai, vâng, cái tai lợn. Dứt khoát nó không phải là thịt, cũng không phải là sụn. Nó không gau gáu, không sừn sựt... nó... sướng quá!

Rồi ông cười hà hà, tiếp tục:

- Tôi thích làm thơ. Làm thơ cũng như chén miếng tai lợn. Tiểu thuyết, truyện ngắn, văn xuôi là thịt lợn, ai cũng ăn thịt lợn. Kiêu kỳ một tý thì người ta ưa thịt lợn đen, ghét lợn lang, lợn trắng Móng Cái. Nhưng đều vẫn là thịt lợn. Văn xuôi thịt lợn. Còn nhắm cái tai lợn là người biết thưởng thức, đấy là thơ...

Tất nhiên chỉ là chuyện đùa tếu cho vui trong cuộc nhậu! Nhưng dẫu sao nó cũng cho thấy một cái gì đó "rất Võ Huy Tâm" khi bàn về thơ và khi làm thơ. Ông làm thơ như một nhu cầu tự thân, làm vì... sướng nó! Có thể là để giãi bày cảm xúc, có thể là để tuyên truyền, thậm chí có thể chỉ là để giao tiếp với bạn bè v.v... Nhưng cũng chính từ cái xuất phát điểm ấy mà thơ ông thể hiện rất rõ con người ông, một con người có tấm lòng nhân hậu, bộc trực, chất phác... thuần chất thợ mỏ! Ông nhìn với cách nhìn thợ mỏ, nghĩ theo cách nghĩ của thợ mỏ và nói cũng theo cách nói của thợ mỏ. Thơ ông tự nhiên, giản dị, với nhiều câu, chữ tinh túy, cô đúc đến độ có thể nhầm tưởng là ca dao, tục ngữ; song cũng vì tự nhiên nên lại đôi khi hơi dễ dãi, cảm giác như là một bài vè hay một câu chuyện có vần để truyền khẩu thôi vậy! Quay trở lại với cái quan niệm khá "độc đáo" về thơ (làm thơ cũng như nhá miếng tai lợn) của ông, thấy điều này cũng chẳng có gì khó hiểu! Ông làm thơ theo một cách tự nhiên nhi nhiên, làm thơ mà không nghĩ mình đang hoặc để trở thành một nhà thơ! Đọc những bài thơ của ông (mà phần lớn là qua chép tay, qua truyền khẩu v.v... của bạn bè, những người gần gũi, thân thiết với nhà văn khi ông còn sống, bởi thơ ông đăng trên các báo, tạp chí không nhiều, lại bị thất lạc đi nữa...), tôi cảm thấy ông thật đáng kính, đáng trân trọng, nhưng cũng thật gần gũi, dễ mến! Tôi cứ nghĩ giả dụ nếu có một danh hiệu "Người thợ mỏ kiểu mẫu" (giống như danh hiệu "Công dân Thủ đô kiểu mẫu" mà Nhà nước trao tặng cho một số người con ưu tú của Thủ đô nhân dịp Đại lễ nghìn năm Thăng Long Hà Nội vậy) thì hẳn nhà văn Võ Huy Tâm phải là người đầu tiên ở Vùng mỏ xứng đáng được nhận danh hiệu ấy!

Vì lòng mến mộ và cũng vì muốn để bạn đọc hiểu thêm về một mảng văn chương vốn không phải đã làm cho tác giả nổi tiếng như tiểu thuyết, truyện ngắn v.v... (nhưng lại làm cho ta thấy rất rõ con người, tâm hồn, tính cách thuần chất thợ mỏ của ông), nhân dịp kỷ niệm 74 năm Ngày truyền thống ngành than và công nhân mỏ, 12-11 (1936-2010), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số bài thơ của Võ Huy Tâm, cũng là để tưởng nhớ đến ông nhân sắp kỷ niệm 84 năm ngày sinh của nhà văn, 28-12 (1926- 2010)...
 

Nhà văn Võ Huy Tâm sinh ngày 28-12-1926; quê ông ở xã Gia Hòa, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định nhưng từ nhỏ đã theo gia đình ra sinh sống ở Vùng mỏ. Từ 1941-1942, ông làm thợ mỏ ở mỏ than Uông Bí, tham gia hoạt động trong tổ chức Công nhân cứu quốc và trong nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương do Đảng tổ chức. Cuối 1948-1949, ông về Hồng Gai, Cẩm Phả và hoạt động trong vùng địch. Trong kháng chiến chống Pháp, Võ Huy Tâm vừa viết văn, làm thợ, vừa tham gia công tác Công đoàn. Sau đó ông lên Việt Bắc, công tác trong Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Từ cuối 1951, làm việc ở Sở Vận tải và Báo Công đoàn Vận tải. Sau đó, chuyển về làm việc ở mỏ Làng Cẩm, mỏ Phấn Mể… Sau hòa bình, Võ Huy Tâm chuyển về Hà Nội, công tác ở cơ quan Hội Nhà văn (1959-1962), năm 1963-1966: Ông là một trong những người đảm nhiệm công tác đào tạo những người viết văn trẻ của Hội. Từ 1967-1975, ông công tác tại tuần báo Văn nghệ rồi trở lại sống ở Quảng Ninh cho đến khi mất, ngày 21-10-1996 tại Quảng Ninh.

* Tác phẩm đã xuất bản: Vùng mỏ (tiểu thuyết, 1953); Kể chuyện mỏ thời Tây (trường ca, 1956); Chiếc cán búa (truyện ngắn, 1958); Ngõ ngang xóm thợ (truyện vừa, 1960); Những người thợ mỏ (tiểu thuyết, 1961); Đi lên đi (tiểu thuyết, 1971); Gánh chèo mảnh (truyện ngắn, 1974); Măng bão (truyện cho thiếu nhi, 1980); Trăng bão (truyện, 1980); Rượu chát (tiểu thuyết, 1981); Vỉa than lớn (tiểu thuyết, 1983); Hòn gạch chịu lửa (truyện ngắn, 1984); Hạt trai (truyện, 1987).

- Nhà văn đã được nhận giải nhất Giải thưởng Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1952 (tiểu thuyết Vùng mỏ). Năm 2001, nhà văn đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT (đợt 1).

 
Cây phi lao và người yêu

Cây phi lao bên ga Cẩm Phả
Người yêu tôi đẩy xe ở ga...
 
Tôi yêu cây phi lao đẹp mà lá cành nặng bụi
Tôi thương em đẹp mà lọ lem suốt ngày
Ngày nào cây phi lao và em đều bụi
Thì ngày ấy cùng được nhiều than
 
Tan tầm em tôi về tắm gội
Trời mưa tươi tốt cho cây...
 
Cây phi lao và em tôi đều sạch bụi
Đã góp phần cho đất nước tốt tươi
 
Cây phi lao đẹp làm phố phường thêm đẹp
Em tôi đẹp càng làm yên lòng tôi...

Hòm mìn

Bạn của tôi
Những người thợ mỏ
Đã giúp tôi
Dựng túp lều bằng gỗ
Căn phòng của tôi
Sàn bằng gỗ hòm mìn
Trần bằng gỗ hòm mìn
Tường bằng gỗ hòm mìn
Và cửa sổ cũng bằng gỗ hòm mìn...
Cám ơn anh chị em
Đã đến giúp tôi
Trong lúc vừa đào than vừa bắn rơi máy bay giặc Mỹ
 
Giặc đã bỏ bom Mạo Khê, Vàng Danh, Uông Bí
Giặc đã bỏ bom Bãi Cháy, Hòn Gai
Giặc đã bỏ bom Hà Lầm, Hà Tu
Giặc đã bỏ bom Mông Dương, Cửa Ông, Cẩm Phả
Một dải Vùng mỏ giàu đẹp yêu thương đang bị
                                                         tàn phá...
 
Đêm khuya trong rừng sâu, tôi nghĩ gì, viết gì?
Căn phòng các bạn làm giùm toàn bằng gỗ
Sàn bằng gỗ hòm mìn
Tường bằng gỗ hòm mìn
Và cửa sổ cũng làm bằng gỗ hòm mìn
Tất cả căn phòng là một cái hòm mìn
Còn tôi: tôi phải là thuốc nổ!

Vịnh Thạch Anh Trang

(Bài thơ do nhà báo Cao Thâm
cung cấp, đầu đề do Tòa soạn đặt)

Quần tụ Thạch Anh đá mấy hòn
Tình thơ vẫn ấm túp lều con
 
Sắn khoai gắn bó cùng nương rẫy
Đào mận sum vầy giữa núi non...

   Cuộc đời thợ mỏ

(Bài thơ do nhà thơ Trần Tâm cung cấp. Theo nhà thơ Trần Tâm, bài thơ được truyền khẩu rất rộng rãi ở Cẩm Phả những năm Vùng mỏ còn bị tạm chiếm. Đầu đề bài thơ là do Tòa soạn đặt)

Làm nảy đom đóm
Hai kíp một ngày
Vất vả thế này
Vẫn hoàn túng thiếu
 
Thuốc thiếu từng điếu
Gạo thiếu từng cân
Vợ ốm hàng tuần
Con không sữa bú
 
Thế mà bọn chủ
Tiệc tùng quanh năm
Xi nê nhảy đầm
Áo quần sang trọng
Cửa cao nhà rộng
Thả cửa ăn chơi
Sống bằng mồ hôi
Máu người phu mỏ
 
Một hôm xe đổ
Tây đánh ở đường
Bị cúp mất lương
Về nhà hết gạo
 
Vài lẻ nấu cháo
Xách chiếc vấu ra
Con bé khóc oà
Bữa ăn nước mắt...

Cùng chuyên mục