Xuất thân nghề cơ điện mỏ, cả đời gắn bó với Vùng than và người thợ mỏ, để rồi khi chuyển sang cầm bút viết văn, Võ Khắc Nghiêm như hòn than cháy hết mình, toả ra thứ nhiệt lượng mãnh liệt.
Võ Khắc Nghiêm thuộc thế hệ nhà văn, nhà báo đầu tiên của ngành Than và tỉnh Quảng Ninh từ thập niên 60 của thế kỷ 20. Sau khi tốt nghiệp Khoa Cơ điện mỏ đầu tiên của Trường Trung cấp Kỹ thuật Mỏ, ông về gắn bó với Vùng than. Hơn nửa thế kỷ qua, ông luôn ý thức rõ trách nhiệm và niềm tự hào của người cầm bút trưởng thành từ một vùng đất giàu đẹp, anh hùng.
Nhà văn Võ Khắc Nghiêm cho biết: “Tôi may mắn sớm được tiếp cận với nền công nghiệp hiện đại, sống với những người thợ giàu sáng tạo, giàu nhân ái và bất khuất kiên cường. Những câu chuyện, những nhân vật tôi đã khắc hoạ trong các tác phẩm của mình chỉ phản ánh được một phần nhỏ cuộc sống phong phú, đa dạng của thợ mỏ”. Không chỉ có vậy, nhân vật của Võ Khắc Nghiêm còn công tác ở nhiều ngành quan trọng ở các địa phương trong tỉnh như: Uông Bí, Vân Đồn, Hạ Long, Bái Tử Long.
Những năm tháng ở Quảng Ninh đã không chỉ trang bị cho Võ Khắc Nghiêm vốn sống, tri thức mới mà còn nâng tầm nhìn cao rộng hơn. Nhờ vậy, khi động đến những mảng đề tài khác trong cuộc sống, ngòi bút của Võ Khắc Nghiêm vẫn dễ dàng “tung hoành”. Hàng loạt tác phẩm của ông đã đua nhau ra đời, phần lớn trong số đó là tiểu thuyết như: “Nhân danh công lý”, “Mười sáu tấn vàng”, “Cướp ngày”, “Sự huyền diệu của tình yêu”, “Đại dương trong mắt em”, “Người tình 15 năm”, “Phúc hoạ đời người”, “Trăng lạnh Hạ Long” v.v.. Trải qua nhiều công việc khác nhau như làm Trưởng Đài phát thanh rồi Phó Giám đốc Trung tâm truyền hình Công nghiệp mỏ, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Than Việt Nam, vừa làm báo vừa sáng tác, Võ Khắc Nghiêm đã cho ra đời hàng trăm truyện ngắn, bút ký, phóng sự, hàng chục tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, hàng ngàn bài báo sắc sảo.
Ông bảo điều mà ông tâm đắc nhất là đã tiếp nhận được ở Quảng Ninh sự trăn trở tìm tòi sáng tạo, chân thực, bao dung khi viết văn, viết báo. Ngay cả cách thể hiện cũng phải mới mẻ, phù hợp với nội dung để tạo nên sức hấp dẫn trong từng chi tiết, từng câu đối thoại, không chỉ phù hợp với tính cách nhân vật mà còn phải có trí tuệ, gắn với sự khái quát hoàn cảnh xã hội. Về điểm này, nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét: “Điều nhất quán xuyên suốt trong sáng tác của Võ Khắc Nghiêm là không ngừng khám phá những sự mới lạ của cuộc sống, ông cố tìm ra cho riêng mình cách thể hiện không giống ai, chú trọng đến lượng thông tin và dựng lên hàng loạt nhân vật sống động sâu đậm bản sắc và thân phận. Nhất là thân phận những người thợ và những người phụ nữ trong cuộc sống hiện tại”.
Võ Khắc Nghiêm đã chọn cho mình cách viết “tốc độ”, dồn nén; áp dụng phương pháp cắt lớp của điện ảnh, tạo ra những xung đột tính cách của sân khấu và cả cách lướt qua sự kiện kiểu của báo chí để cho người đọc tiếp nhận nhanh thông tin và gợi mở cho họ sức tưởng tượng sống cùng nhân vật, chỉ tập trung khoét sâu vào những sự kiện chính. Điều này giống như trong khai thác than người ta phải chọn phương hướng mở lò, cắt tầng đi thẳng vào vỉa than sao cho ngắn nhất, hiệu quả nhất. “Tôi học được từ người thợ lò cách thể hiện “đi thẳng” vào truyện chân thực, không sa đà vào mây gió trăng sao, không miên man, rối rắm mà tập trung chi tiết xây dựng nổi bật tính cách nhân vật đa chiều qua những sự kiện bình thường mà độc đáo” - Nhà văn Võ Khắc Nghiêm cho biết. Bởi vậy, nhân vật trong sáng tác của Võ Khắc Nghiêm chủ yếu được khắc hoạ số phận với những xung đột căng thẳng đầy hấp dẫn.
Dù tuổi đã cao nhưng Võ Khắc Nghiêm vẫn say sưa viết văn, nhất là viết về Vùng mỏ. Đánh giá về Võ Khắc Nghiêm, nhà văn Nguyễn Đức Huệ nhận xét: “Ông vẫn tiếp tục đi và viết, chưa bao giờ chịu ngồi yên, lúc nào cũng muốn làm một điều gì đó, viết ra một điều gì đó mà mình cảm nhận được từ cuộc sống, nhất là cuộc sống người thợ mỏ, những người suốt đời gắn bó với Vùng than, cái vùng đất mà cho đến hôm nay, tuy đã xa rồi, ông vẫn từng ngày dõi theo từng biến động, dù rất nhỏ thôi, của nó, như dõi theo nhịp đập trái tim mình, như ngày xưa ông từng sống và yêu như vậy”.
Huỳnh Đăng