Vốn quý cho muôn đời sau

Từ rất sớm, Quảng Ninh đã là vùng quần cư của nhiều tộc người. Với nhiều nét văn hóa truyền thống, trong đó có các lễ hội đã được hình thành. Ngày nay từ các vùng miền núi đến khu vực ven biển hay đồng bằng Quảng Ninh đều có những lễ hội tiêu biểu mang tính đặc trưng vùng miền riêng biệt…

Vốn quý cho muôn đời sau ảnh 1
Nghi lễ “cầu mùa” trong Hội làng của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả (Hoành Bồ).
                                                     Ảnh: TM

Những lễ hội độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số

Người Dao Thanh Y đã đến vùng đất khoáng đạt, màu mỡ chân núi xã Bằng Cả, Hoành Bồ sinh sống từ rất lâu. Nhiều thế hệ nối tiếp nhau, họ vẫn giữ tục tổ chức ngày hội làng để cầu mong các vị thần linh phù hộ. Hội làng Bằng Cả tổ chức 5 lần trong năm, trong đó hội đầu năm, ngày mồng 1-2 âm lịch và hội cuối năm 20-10 âm lịch, được tổ chức to nhất. Vào ngày này những người đàn ông chủ gia đình tập trung về nhà trưởng bản, ai cũng góp cỗ, thường là gà, gạo, rượu chua. Trưởng bản là người uy tín và cũng là một thầy mo giỏi, thông thuộc các bài cúng khấn, trị tà, bệnh. Trưởng bản sắp mâm lễ đầy đủ thủ lợn, xôi, gà, rượu trắng đặt nơi góc nhà. Sau 3 lễ cầu trời, thổ địa, thổ công, lễ cầu cho họ tộc, lễ cầu cho lúa khoai được mưa thuận gió hòa, dân bản khoẻ mạnh, đoàn kết, mùa màng bội thu, những người đàn ông ngồi quây quần mời nhau những bát rượu chua, thứ đồ uống mà chỉ người Dao Thanh Y Bằng Cả mới làm ngon được. Trong bữa tiệc đoàn kết ấy, trưởng bản thông báo những việc bản đã làm được trong năm qua, khen ngợi những cá nhân, gia đình đã có nhiều cố gắng để cải thiện cuộc sống và đóng góp cho bản. Đồng thời thay mặt cả bản liệt kê những việc sẽ phải làm trong năm tới. Xét về nội dung ngày hội làng của người Bằng Cả giống như một buổi họp tổ dân, tại đó nhiều khúc mắc trong các gia đình, dòng họ được tháo gỡ, giải quyết, nhằm thắt chặt tình đoàn kết và huy động sức mạnh cộng đồng. Cùng với các nghi thức cúng khấn, Hội làng Bằng Cả còn diễn ra những trò chơi dân gian như ném còn, đẩy gậy, trai gái hát đố, hát giao duyên với nhau, dòng họ này thi tài thêu trang phục với dòng họ kia v.v... rất sôi động. Những năm gần đây Hội làng Bằng Cả đã mở rộng về quy mô, ngoài các hoạt động truyền thống còn có các hoạt động giao lưu thể thao, văn nghệ cụm 4 xã lân cận và nhiều phần hội khác, trở thành ngày hội chung của các dân tộc huyện Hoành Bồ…

Lễ hội Đại Phan của người Sán Dìu xã Bình Dân (Vân Đồn) có ý nghĩa cầu an, xua đuổi tà dịch. Sơ khai, Đại Phan là lễ hội cầu mùa, sau đó được lồng ghép thêm các nghi thức cấp sớ, điệp, sắc phong cho các thầy mo. Bởi vậy xưa lễ hội thường được tổ chức quy mô, nhiều nghi thức cúng tế, nhiều hoạt động hội đặc sắc. Theo kịch bản lễ hội Đại Phan mới được Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch phục dựng lại sau gần 60 năm mai một, nghi lễ chính của lễ hội là lễ rước thành hoàng, dựng cây phan (cây nêu), chém súc hiến tế (bò, lợn hoặc trâu) hát Soọng Cô, leo gương và đi trên than hồng. Trong đó tục chém súc hiến tế thể hiện sự sùng kính, biết ơn của người dân đối với những vị thần đã phù hộ, bao bọc cho làng, ban thần phép cho các thầy mo làng, mong cho các vị thần linh bớt cơn nóng giận bởi những hành động dại dột của mình để rộng lòng ban cho họ sức khoẻ, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Đại Phan còn sôi động hơn bởi tục hát Soọng Cô. Gần giống như những điệu Sli, lượn của người Tày, Sình ca của người cao lan, Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hát Soọng Cô là thể loại hát đối đáp nam nữ. Mỗi bài hát là một bài thơ được viết theo thể “thất ngôn tứ tuyệt” đằm thắm, ý nghĩa mà dễ hiểu dễ nhớ. Qua hội hát Soọng Cô trong lễ hội Đại Phan, nhiều trai gái Sán Dìu Bình Dân đã quen hơi bén tiếng nhau, cùng nhau xây dựng hạnh phúc…

Tục đua thuyền chải - khí phách dân biển

Tục đua thuyền chải Quan lạn nằm trong lễ hội làng Quan Lạn. Đây là lễ hội nhằm tưởng nhớ công lao các vị thần đã bảo trợ cho người dân biển, cầu mong các vị phù hộ cho nhân dân một năm đi biển hanh thông, được mùa cá, tránh những tai ương. Hội được tổ chức kéo dài từ mồng 10 đến 20 tháng 6 âm lịch. Trong những ngày này (gọi là ngày khoá làng), không một thuyền nào được rời khỏi đảo vì làng đã vào đám, và cũng không được ai về muộn quá ngày mở hội, trừ những thuyền do cơ nhỡ trên đường, nếu vi phạm sẽ bị làng đốt thuyền. Đối với những người dân biển Quan Lạn, hội làng là dịp duy nhất trong năm tập hợp đông đủ các thành viên trong làng, cùng nhau tham gia các hoạt động hội, cùng nhau củng cố niềm tin, tình đoàn kết và tỏ rõ sức mạnh trước phong ba bão táp đang chờ đợi phía trước. Điều này thể hiện rõ nhất trong tục đua thuyền chải. Xưa kia cuộc đua diễn ra giữa 6 giáp, nay chỉ còn chải của giáp Văn và chải giáp Võ. Mỗi chải là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, đoàn kết; ngoài 30 quân bơi dầm chèo còn có 4 tay sào mũi lái, 2 tay cầm lái, 1 tay phất cờ lòng, một tướng kèm 3 người phục vụ, 1 người đánh trống thúc quân, 1 tay phát đường. Ngay sau hiệu lệnh xuất phát các tay bơi dồn sức đâm thẳng mái dầm xuống nước. Vị tướng đứng ở mũi thuyền hiên ngang rao hịch động viên tinh thần các tay chèo cũng là để cầu cho ngũ vị đại vương phù hộ cho dân làng được cường thịnh, an khang… Có thể nói tục đua thuyền chải trong lễ hội Quan Lạn là lúc rèn luyện tính tổ chức, kỷ luật cho các thành viên trong nghề đi biển, như một cuộc tập dượt tay nghề, truyền dạy kinh nghiệm một cách vững vàng cho ngư dân. Thông qua cuộc đua, người tham gia lẫn người xem đều rút ra những kinh nghiệm đi biển cho riêng mình, để vươn lên đứng vững giữa biển khơi…

Vốn quý cho muôn đời sau ảnh 2
Đua chải trong Lễ hội xuống đồng xã Phong Cốc (Yên Hưng).
                                                     Ảnh: TM

Đậm đà văn hóa nông nghiệp lúa nước

Giống như các vùng đồng bằng khác, các lễ hội ở 2 vựa lúa Yên Hưng và Đông Triều thường gắn với các di tích như lễ hội Bạch Đằng, hội miếu Tiên Công, hội chùa Quỳnh Lâm, hội đền An Sinh v.v... với các hoạt động rước sắc phong, tượng, bài vị của thần, tế lễ và các trò chơi dân gian. Trong đó có lễ hội Tiên Công ở xã Cẩm La và hội Xuống đồng xã Phong Cốc (Yên Hưng) thể hiện giá trị của gia phong, dòng họ, lòng biết ơn những vị thần bảo hộ mùa màng.

Hội miếu Tiên Công vào ngày 7 tháng giêng hàng năm, thờ 19 vị thành hoàng làng, cũng là 19 vị tổ của 19 dòng họ lớn đã có công quai đê lấn biển lập nên làng mạc Hà Nam trù phú như ngày nay. Ngoài các nghi lễ như cáo yết, tạ ơn thành hoàng, hoạt động đặc trưng nhất của hội miếu Tiên Công chính là tục rước các cụ thượng. Những cụ ông, cụ bà thọ từ 80 tuổi trở lên được con cháu tổ chức rước lên miếu báo cáo tổ tiên đã ban cho tuổi vàng tuổi ngọc. Các cụ được ngồi kiệu hoa, võng đào, đi dưới hàng lọng vàng, hàng bát biểu nghiêm trang và trong tiếng nhạc ngũ âm rộn rã. Phía trước là mâm ngũ quả được kết hình long mã cầu kỳ... Hội miếu Tiên Công được coi là lễ hội đậm tính gia phong, dòng họ, góp phần gìn giữ truyền thống lâu đời của người dân nơi đây. Bởi vậy đã là người con Hà Nam dù làm ăn sinh sống nơi đâu đến ngày hội miếu cũng trở về làng…

Hội Xuống đồng Phong Cốc tương tự như lễ hội cầu mùa của nhiều dân tộc khác, là thờ cúng 2 vị thần Nông và thần Hoàng phù hộ cho mùa màng tốt tươi. Hội được tổ chức vào đầu tháng 6 âm lịch khi bước vào thời vụ cấy lúa mùa (vụ chính). Xưa kia vùng đảo Hà Nam chỉ có một vụ mùa chính cấy lúa Tám đồng, thường thì bắt đầu từ 2 đến 6 tháng 6 âm lịch, nay do lúa Tám đồng năng suất thấp, không cấy nữa, vụ mùa cũng thay đổi, có lúa mùa sớm, mùa trung, mùa chính nên thời điểm tổ chức hội muộn hơn một chút, song vẫn trong tháng 6 âm lịch. Cùng với hội đua thuyền chải thì cuộc thi cấy Xứng đồng là phần chính của lễ hội. Sau đường cấy mẫu của vị chủ tế, các thôn nữ đại diện cho mỗi làng trong xã là những tay cấy giỏi đã được làng lựa chọn cùng nhau thi tài. Đường cấy nào được đánh giá đều, thẳng và nhanh nhất sẽ đạt giải. Và năm ấy những cánh đồng của làng thắng cuộc chắc chắn sẽ bội thu.
Còn rất nhiều những lễ hội tiêu biểu khác trên vùng đất Quảng Ninh mà như người ta thường ví là “một nước Việt Nam thu nhỏ”... Đó là đặc trưng, là vốn quý cần phải gìn giữ và phát huy cho muôn đời sau…

Cùng chuyên mục