Cách tính mức lương hưu theo Luật BHXH 2006 và Luật BHXH 2014

Bạn đọc có hòm thư nguyenthuhang291084@gmail.com hỏi: “Tôi đi làm chế độ hưu trí cho người thân. Ông ấy làm việc trong điều kiện lao động bình thường, sinh năm 1960, thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, suy giảm khả năng lao động với mức 65%, có quyết định nghỉ hưu tháng 12-2015 và nộp đơn xin nghỉ hưu trước tuổi ngày 13-11-2015. Tôi xem Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2006 thì tính ra ông ấy đóng BHXH được 37 năm 6 tháng. Vậy có phải nam đóng BHXH đủ 30 năm là được 75% lương không? Nếu tính vậy, ông ấy thừa 7 năm 6 tháng, nhưng BHXH bảo tôi là tính 35 năm, như thế đúng hay sai? Lương 5 năm cuối ông ấy hưởng là 4.473.500đồng/tháng, lương tháng về hưu sớm 5 năm còn 70% sẽ nhận lương 3.131.450 đồng, vậy ông ấy còn được lĩnh một lần là bao nhiêu nữa?

Trung tâm Tư vấn pháp luật và Huấn luyện an toàn lao động Công đoàn Quảng Ninh trả lời như sau:

Theo Luật BHXH năm 2006, Nghị định 152/2006/NĐ-CP, người lao động (NLĐ) tham gia BHXH đủ 30 năm đối với nam và 25 năm với nữ thì mức lương hưu hàng tháng tối đa là 75%. Theo khoản 2, Điều 56, Luật BHXH năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2016) có quy định: Từ ngày 1-1-2018, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại Điều 62 của luật này và tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: (a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm; (b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, NLĐ quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%. Như vậy từ năm 2022 trở đi, lao động nam có 35 năm đóng BHXH, từ năm 2018 trở đi lao động nữ có 30 năm đóng BHXH thì mức lương hưu hàng tháng được tính tỷ lệ tương ứng tối đa bằng 75%.

Việc cán bộ BHXH trả lời hiện nay lao động nam có 35 năm đóng BHXH thì mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 75% là sai.

Theo khoản 1, Điều 31, Luật BHXH năm 2006: Đối với NLĐ tham gia BHXH trước ngày 1-1-1995 thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân các mức tiền lương tháng đóng BHXH của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Căn cứ khoản 2, Điều 52, Luật BHXH năm 2006 quy định: Mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%. Như vậy khi lao động nam nghỉ hưu ở tuổi 55 (sinh 1960) bị trừ 5% là đúng (đến ngày 1-1-2016 thực hiện Luật BHXH năm 2014 thì mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%); tỷ lệ lương hưu được tính là 70%x4.473.500 đồng=3.131.450 đồng là đúng.

Căn cứ Điều 54, Luật BHXH năm 2006: (1) NLĐ đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần. (2) Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH. Theo quy định tại khoản 5, Điều 28, Nghị định số 152/2006/NĐ-CP thì thời gian đóng BHXH có tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là nửa năm; từ trên 6 tháng đến 12 tháng tính tròn là một năm.

Như vậy NLĐ có thời gian tham gia BHXH thừa 7 năm 6 tháng so với quy định, thì được tính tròn là 7,5 năm, mức trợ cấp một lần được tính như sau: 7,5 năm x 0,5 tháng mức bình quân tiền lương x 4.473.500 đồng = 16.775.625 đồng.

Trung tâm TVPL và Huấn luyện ATLĐ Công đoàn Quảng Ninh

(Điện thoại 0333.829961)

Cùng chuyên mục