Chuyện cái rãnh thoát nước thải

Năm 2002, ông Điệp xây dựng nhà ở trên diện tích đất của gia đình giáp với phần đất của hộ ông Minh, có để lại phần đất làm rãnh nước thải sinh hoạt chung. Rãnh nước thải này chủ yếu tự ngấm xuống lòng đất. Đến năm 2007, gia đình ông Điệp chuyển nhượng lại cho ông Sinh. Trong thời gian đầu chuyển về sinh sống, ông Sinh vẫn để phần đất làm rãnh nước thải sinh hoạt. Đến năm 2008 ông Sinh đột nhiên ngăn không cho gia đình ông Minh xả nước thải sinh hoạt ra rãnh nước. Ông Sinh tự đổ đất, cát, gạch làm ngăn nước thải không tự ngấm xuống đất được. Do không có đường xả nước thải sinh hoạt nào khác nữa, nhiều lần ông Minh đã đề nghị ông Sinh tạm dừng việc ngăn nước thải nhưng ông Sinh không đồng ý dẫn đến hai gia đình nhiều lần to tiếng với nhau. Ông Minh đã gửi đơn đề nghị Tổ hòa giải khu phố giúp hoà giải tranh chấp rãnh nước thải sinh hoạt với hộ ông Sinh.

Sau khi nhận được đơn đề nghị của ông Minh, Tổ hoà giải đã tiến hành thu thập tài liệu liên quan, kiểm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và khẩn trương tổ chức hoà giải giữa các bên. Buổi hoà giải diễn ra có sự tham gia của hai hộ ông Minh; ông Sinh; anh Tân, hoà giải viên; chị Liễu cán bộ Tư pháp phường, đồng thời là hàng xóm của nhà ông Minh và ông Sinh; ông Thắng, Tổ trưởng Tổ dân phố. Anh Tân xác định sự việc giữa gia đình ông Minh và gia đình ông Sinh là mâu thuẫn phát sinh do tranh chấp về đường thải nước sinh hoạt theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Còn chị Liễu khẳng định: Theo quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải tại Điều 270 Bộ luật Dân sự: “Chủ sở hữu nhà phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề”. Còn theo quy định về quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề tại Điều 273 Bộ luật Dân sự, “Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác”. Đồng thời, Điều 277 Bộ luật Dân sự cũng quy định về quyền cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề như sau: “Trong trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy. Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại. Như vậy gia đình bác Minh cần hiểu rõ về việc xử lý đường thoát nước thải không để nước thải sinh hoạt chảy tràn sang hộ gia đình liền kề hoặc gây ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường sinh hoạt công cộng. Bên cạnh đó gia đình bác Sinh cũng cần tạo điều kiện cho gia đình bác Minh trong việc xả nước thải sinh hoạt sao cho vừa đảm bảo các quy định của pháp luật và giữ được tình làng nghĩa xóm.

Sau khi lắng nghe các ý kiến phân tích, giải thích của Tổ hoà giải, hai bên gia đình ông Minh, gia đình ông Sinh đã nhất trí với nội dung hoà giải và hứa sẽ không để xảy ra tranh chấp nữa, cùng ký vào biên bản hoà giải. Mọi người ra về trong không khí vui vẻ, trò chuyện râm ran khu phố nhỏ.

Đức Thành (Sở Tư pháp)

Cùng chuyên mục