Bà Đinh Thị Mai có đơn khiếu nại Quyết định số 1439/QĐ-UBND ngày 15-6-2012 của UBND TP Cẩm Phả về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà và gia đình bà Lưu Thị Hiền cùng trú tại tổ 5, khu 12, phường Mông Dương (TP Cẩm Phả).
Theo phản ánh của bà Mai, thửa đất trên bà sử dụng từ năm 1987, đến năm 1998 thì mua lại của ông Chung, bà Bơ (quan hệ gia đình giữa bà Mai với ông Chung là con bác và con cô) sau khi mua lại tiếp tục sử dụng đến năm 2005 để làm than trôi và từ 2005 đến nay thì không sử dụng nữa.
Theo UBND phường Mông Dương cho biết: Năm 2007, TX Cẩm Phả (nay là TP Cẩm Phả) lập 2 dự án: Xây kè sông Mông Dương và đường dân cư bắc sông Mông Dương. Dự án làm đường dân cư bắc Mông Dương có chiếm dụng một phần thửa đất hiện đang xảy ra tranh chấp giữa bà Mai và bà Hiền. Phường đã xác định nguồn gốc đất bằng việc lấy ý kiến khu dân cư, những người sống cùng thời điểm để làm cơ sở lập phương án đền bù. Kết quả xác định: Thửa đất tranh chấp giữa hộ bà Mai và bà Hiền, trước đây là bãi bồi sông Mông Dương. Người dân tại phường Mông Dương làm bãi tập kết than trôi và không có ai quản lý. Từ năm 1998, gia đình bà Hiền có phát cỏ trồng cây như tre, nhãn, keo và thường xuyên canh tác tại khu vực trên. Đến năm 2007, Dự án xây kè sông Mông Dương do Công ty Than Mông Dương thực hiện đền bù cho gia đình bà Hiền dưới dạng đền bù thoả thuận và nhận tiền (không có giấy tờ); Dự án đường Bắc sông Mông Dương được UBND TP Cẩm Phả lập phương án đền bù ngày 24-6-2009, bà Hiền được đền bù số tiền 24.743.400 đồng: Trong đó 571m2 chiếm dụng vĩnh viễn và 423,3m2 đất chiếm dụng tạm thời và cây cối hoa màu trên đất. Về phía bà Mai, từ năm 1998 đến nay, bà Mai không kê khai, không đầu tư, không quản lý, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ đất đai theo quy định. Vào thời điểm bà Hiền được nhận tiền đền bù bà Mai không có ý kiến gì.
Được biết sau khi xảy ra tranh chấp giữa hai gia đình bà Mai và bà Hiền, UBND phường Mông Dương đã 3 lần tổ chức hoà giải, tuy nhiên việc hoà giải trên đã không thành. Bà Mai tiếp tục có đơn gửi UBND TP Cẩm Phả đề nghị được giải quyết.
Ngày 16-4-2012, UBND TP Cẩm Phả đã thành lập tổ công tác để giải quyết tranh chấp giữa các bên và sau đó đã ban hành Quyết định số 1439/UBND với nội dung: “Việc bà Đinh Thị Mai đề nghị giải quyết tranh chấp đất, đòi đất đối với một phần diện tích đất tại tổ 5, khu 12, phường Mông Dương mà gia đình bà Lưu Thị Hiền, chồng là Trần Văn Cao đang sử dụng là đất của gia đình bà Mai là không có cơ sở. Với lý do: Bà Mai không có một loại giấy tờ quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và UBND phường Mông Dương xác nhận bà Mai cũng không sử dụng thửa đất này”. Không đồng ý với quyết định giải quyết nêu trên, bà Mai tiếp tục khiếu nại lên UBND tỉnh, UBND tỉnh đã giao Sở Tài nguyên & Môi trường (TN&MT) xác minh nguồn gốc đất của hai gia đình để làm cơ sở giải quyết.
Kết quả kiểm tra của Sở TN&MT về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của hai gia đình thể hiện: Thửa đất tranh chấp giữa bà Mai và bà Hiền nằm ven sông Mông Dương có tổng diện tích 994,3m2. Tại buổi làm việc với Sở TN&MT, bà Mai cung cấp 1 bản photocopy “Giấy chuyển nhượng đất” ngày 5-3-1998 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Bơ (chồng Hoàng Văn Chung). Giấy chuyển nhượng viết tay, có xác nhận của ông Mạc Cường Két viết vào giấy chuyển nhượng là: “Thay mặt khu 3 - Phó khu: Mạc Cường Két”, không có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong giấy chuyển nhượng không ghi rõ kích thước từng cạnh thửa đất, không rõ diện tích thửa đất được chuyển nhượng. Trong quá trình làm việc tại UBND phường Mông Dương có 1 nhân chứng là ông Nguyễn Thiện Hùng, Trưởng khu phố 5 đã xác nhận giấy viết tay của bà Đinh Thị Mai với ông Chung và bà Bơ được ông Mạc Thường Két ký xác nhận thể hiện năm 1998, nhưng thực tế ông Két ký năm 2010 (ông Hùng cũng có mặt khi ông Két ký vào giấy viết tay nêu trên).
Bà Hiền cung cấp cho Sở TN&MT: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thửa đất ở của bà Hiền cạnh khu đất tranh chấp, không có trong diện tích bồi thường; 1 biên bản kiểm tra, kiểm kê xác định khối lượng đất đai, tài sản trên đất để thực hiện công tác bồi thường GPMB dự án: Đường giao thông Bắc sông Mông Dương, có xác nhận của UBND phường Mông Dương: Thửa đất này bà Lưu Thị Hiền sử dụng trồng cây lâu năm; 1 bản chứng nhận nhà, đất của UBND phường Mông Dương, MTTQ phường, Công an phường, khu trưởng khu 12; bản chứng nhận ghi ngày 12-6-2009, có xác nhận tên chủ sử dụng đất là Lưu Thị Hiền, tổng diện tích 617,4m2, nguồn gốc do tự khai hoang để trồng cây lâu năm từ năm 1998; 1 phiếu lấy ý kiến khu của dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất ngày 7-6-2009, có xác nhận nguồn gốc đất của gia đình bà Hiền từ năm 1998 do tự khai phá. Tuy nhiên, trên khu đất tranh chấp, bà Hiền cũng không có một trong các loại giấy tờ gì về quyền sử dụng đất. Thửa đất bà Hiền được cấp GCNQSDĐ cấp ngày 30-12-2003 là thửa đất liền kề với thửa đất đang tranh chấp.
Trao đổi với chúng tôi về việc xác định nguồn gốc đất và quá trình giải quyết của UBND phường Mông Dương và TP Cẩm Phả, Sở TN&MT cho rằng việc xác nhận về nguồn gốc sử dụng đất và lấy ý kiến khu dân cư của phường Mông Dương chưa thống nhất với kết quả kiểm tra thực địa và các giấy tờ liên quan. Theo UBND phường Mông Dương thì từ năm 1998 khu vực tranh chấp là đất bãi bồi gia đình ông Cao, bà Hiền phát cỏ trồng cây tre mai, nhãn, keo và thường xuyên canh tác tại khu vực trên. Nhưng theo bản đồ hiện trạng giải phóng mặt bằng được đo vẽ tháng 7-2008 do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường thực hiện thì khu đất tranh chấp là ao có đắp đập xung quanh. Nếu theo phường xác nhận năm 1998 là đất bà Hiền khai hoang và sử dụng thì tại sao năm 2003 khi lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho gia đình lại xác định khu đất tranh chấp là đất hoang (ghi trên GCNQSDĐ).
Điều này đặt ra vấn đề là nếu năm 1998, bà Hiền khai hoang khu đất thì tại sao năm 2003 lại không được cấp GCNQSDĐ (vì khu đất này năm 2003 không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch của địa phương)?. Mặt khác năm 2009, TP Cẩm Phả đã đền bù về đất và tài sản cây cối cho bà Hiền. Như vậy thành phố đã phần nào thừa nhận đây là đất của bà Hiền, tuy nhiên sau khi có đơn khiếu nại của bà Mai và thực hiện xong việc giải quyết khiếu nại cho bà Mai thì thành phố lại tiếp tục có văn bản số 975/UBND-TTr ngày 27-6-2012 giao UBND phường Mông Dương quản lý khu đất tranh chấp.
Từ những chứng lý trên, Sở TN&MT có ý kiến: Về lý bà Hiền đã được UBND phường Mông Dương tổ chức lấy ý kiến khu dân cư và biên bản xét duyệt về nguồn gốc đất đai vị trí đất tranh chấp xác định nguồn gốc thửa đất là do bà Hiền khai hoang từ năm 1998. Tuy nhiên, việc đền bù về đất và cây cối trên đất đối với gia đình bà Hiền cần được xem xét lại. Cụ thể trong hồ sơ trích lục thửa đất, bản đồ GPMB trước khi đền bù và phương án đền bù không phù hợp (hồ sơ trích lục thửa đất là loại đất nuôi trồng thuỷ sản còn phương án đền bù GPMB là đền bù đất trồng cây lâu năm).
Về kiến nghị của bà Mai, qua phân tích nêu trên cho thấy, bà Mai không có bất cứ một loại giấy tờ nào về quyền sử dụng đất. Đối với việc khai hoang và sử dụng trên thực địa thì theo xác nhận của UBND phường thì bà Mai không quản lý và sử dụng khu đất này.
Từ các lý do đó, Sở TN&MT khẳng định: Khiếu nại của bà Đinh Thị Mai về quyết định số 1439/QĐ-UBND của TP Cẩm Phả là không có cơ sở. Tuy nhiên, UBND phường Mông Dương và TP Cẩm Phả cần rút kinh nghiệm trong công tác xác định nguồn gốc đất đai và đền bù GPMB để tránh sai sót trong quá trình giải quyết khiếu nại liên quan đến đất đai.
Đặng Nhung