Vừa qua Toà soạn đã nhận được đơn của bà Vũ Thị Hiền, trú tại số nhà 159, đường Lê Lợi, phường Yết Kiêu, TP Hạ Long (được uỷ quyền của ông Nguyễn Duy Tân và bà Nguyễn Thị Minh Thanh ở tổ 3, khu 5, phường Hồng Hải), kiến nghị với nội dung: Năm 2001, ông Nguyễn Duy Tân và Công ty Than Hòn Gai (nay là Công ty TNHH MTV Than Hòn Gai - Vinacomin) có biên bản thoả thuận về việc đổi đất. Năm 2003, Công ty đã đổ đất đá thải trùm lên toàn bộ tài sản của gia đình ông Tân đang sử dụng. Gia đình không nhận được thông báo và cũng không biết việc tiến hành xây dựng các công trình của Công ty đã được cấp thẩm quyền cấp phép chưa? Công ty không làm đền bù cho gia đình hợp tình, hợp lý, hợp pháp.
Để tìm hiểu nội dung vụ việc, chúng tôi đã có buổi làm việc với ông Vũ Đức Cường, Trưởng Phòng Thanh tra - Pháp chế - Bảo vệ Quân sự, Công ty TNHH MTV Than Hòn Gai - Vinacomin. Theo các tài liệu mà ông Cường cung cấp cho thấy: Công ty Than Hòn Gai được UBND tỉnh giao quyền sử dụng đất theo bản vẽ được duyệt ngày 30-1-1999 để xây dựng tuyến đường ô tô và mương thoát nước của công trình mỏ Than Hà Khánh, khu đất này nằm ở phía Nam cầu Kông Kêu (thuộc tổ 32, khu 5, phường Hà Khánh). Ông Nguyễn Duy Tân được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp tại Quyết định số 214, ngày 7-7-1999, khu đất này nằm ở phía Bắc cầu Kông Kêu và liền kề khu đất của Công ty Than Hòn Gai được giao. Do mưa lũ bồi lấp làm cho dòng chảy của suối bị biến đổi và do sự cố gãy dầm cầu Kông Kêu nên việc mở tuyến đường ở phần đất do Công ty Than Hòn Gai quản lý không thể sử dụng được. Chính vì vậy, ngày 20-11-2001, Công ty Than Hòn Gai và ông Nguyễn Duy Tân đã bàn bạc và đi đến thống nhất “hoán chuyển 1 phần diện tích khoảng 3.500m2 nhằm tạo điều kiện cho hai bên sử dụng phần đất được giao có hiệu quả hơn. Trong khi chờ hoàn tất thủ tục để báo cáo các cấp có thẩm quyền quyết định, hai bên thống nhất để Công ty Than Hòn Gai triển khai thi công tuyến đường trên khu đất của ông Tân được giao để phục vụ sản xuất của Công ty, đồng thời ông Tân cũng sử dụng phần đất của Công ty ở phía Nam cầu Kông Kêu để chăn nuôi và làm bãi tập kết cát”.
Tháng 4-2008, UBND tỉnh đã có Quyết định số 1162 về việc thu hồi và giao đất cho UBND TP Hạ Long để bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB) thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu tập thể công nhân X45 của Công ty Than Hòn Gai tại phường Hà Khánh với tổng diện tích 47.099m2. Quá trình triển khai GPMB, đại diện Công ty và gia đình ông Tân đã lập biên bản thống nhất xác định biện pháp thi công tôn tạo mặt bằng của gia đình để làm cơ sở cho việc lập phương án bồi thường.
Cụ thể, tại “Biên bản thoả thuận xác định khối lượng tôn nền để lập phương án đền bù GPMB ngày 24-6-2009”, đại diện Công ty và gia đình ông Tân sau khi thảo luận đã thoả thuận về khối lượng và vật liệu sử dụng tôn nền như sau: Về khối lượng, thống nhất với khối lượng tôn nền hai bên xác nhận tại biên bản xác định khối lượng ngày 26-12-2008 là 14.350m3; về chất liệu sử dụng tôn nền: Bằng đất (chiếm 90%): 12.915m3, bằng phun cát hạt nhỏ (chiếm 10%): 1.435m3. “Biên bản xác nhận ngày 7-9-2009” nêu rõ, phần tôn tạo bằng đất: Dùng hoàn toàn bằng máy để thi công (gồm xúc đất bằng máy xúc lên xe ô tô 12 tấn, cự ly vận chuyển bình quân 1.500m, san phẳng bằng máy); phần tôn tạo bằng cát: Dùng máy phun cát tại suối liền kề khu tôn tạo khoảng cách trung bình 200m.
Dựa trên các biên bản thoả thuận, Ban đền bù GPMB thành phố đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Tân với tổng giá trị 487.133.000 đồng nhưng gia đình ông Tân không đồng ý phương án bồi thường trên, yêu cầu bồi thường cả phần đất đã hoán đổi.
Theo chúng tôi, tại các biên bản thoả thuận ngày 24-6-1009 và 7-9-2009 giữa Công ty Than Hòn Gai và gia đình ông Tân, ông Tân đều đã thống nhất và đồng ý xác nhận về khối lượng tôn nền để lập phương án đền bù GPMB phục vụ dự án cây dựng khu tập thể X45. Như vậy phương án bồi thường, hỗ trợ do Ban đền bù GPMB thành phố đã lập là dựa trên sự thoả thuận, đồng ý giữa gia đình ông và Công ty. Đây cũng là căn cứ để Công ty Than Hòn Gai tiến hành đền bù.
Tuy nhiên, theo “Biên bản làm việc ngày 20-11-2001” thì phía Công ty có trách nhiệm làm thủ tục công nhận quyền sử dụng cho ông Tân trên phần diện tích đất đã đổi. Nhưng từ thời điểm đổi đất đến nay phần đất này vẫn do Công ty quản lý, sử dụng. Việc Công ty không thực hiện đúng cam kết với ông Tân lỗi thuộc về phía Công ty. Và đây cũng là nguyên nhân khiến vụ việc kiến nghị kéo dài.
Tháng 6-2012, Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố đã có buổi làm việc với Công ty Than Hòn Gai và đại diện gia đình ông Tân. Trung tâm đã có kết luận: Việc ông Tân đề nghị được bồi thường phần đất mà Công ty Than Hòn Gai thu hồi lại là không có cơ sở xem xét giải quyết, vì từ thời điểm đổi đất đến nay diện tích đất mà Công ty đổi vẫn chưa làm thủ tục công nhận quyền sử dụng cho ông Tân. Phần đất này vẫn do Công ty quản lý, sử dụng. Việc Công ty không thực hiện đúng cam kết với ông Tân tại biên bản ngày 20-11-2001, Trung tâm đề nghị Công ty và ông Tân tự thoả thuận nội dung này.
Sau khi có kết luận của Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố, Công ty Than Hòn Gai tiếp tục có buổi làm việc với đại diện gia đình ông Tân vào ngày 16-7-2012, hai bên đã thống nhất số tiền bồi thường, hỗ trợ là 631.932.668 đồng. Trong đó: 487.132.668 đồng bồi thường cho gia đình theo phương án bồi thường GPMB của Ban đền bù GPMB thành phố đã lập ngày 25-11-2009; 144.800.000 đồng là tiền hỗ trợ thêm 4.800m2 đất nông nghiệp theo giá đất tại QĐ số 4166, ngày 26-12-2011 của UBND tỉnh về việc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh năm 2012 (4.800m2 đất trên được tính là đất nuôi trồng thuỷ sản, giá 30.000 đồng m2). Một số ý kiến đề nghị của đại diện gia đình ông Tân cũng đã được phía Công ty giải thích rõ là do không có tài liệu và căn cứ để giải quyết.
Như vậy, đến thời điểm này Công ty Than Hòn Gai đã rất tích cực trong giải quyết vụ việc của ông Tân bằng các thoả thuận về phương án bồi thường diện tích đất bị thu hồi nhưng phía gia đình ông vẫn không đến nhận tiền chứ không phải Công ty không làm đền bù cho gia đình như đơn trình bày.
Ngọc Anh