Tháng 6-2009, thực hiện dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp cụm hồ chứa nước Khe Mai, Khe Bòng và Voòng Tre thuộc xã Đài Xuyên (huyện Vân Đồn), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (chủ đầu tư) đã ký hợp đồng số 29/2009/ HĐGPMB với Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Vân Đồn để giải phóng mặt bằng, lấy đất đắp đập.
Trong quá trình các cơ quan chức năng tiến hành khảo sát để thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Thuấn trú tại thôn Vòong Tre, xã Đài Xuyên phục vụ dự án, ông Thuấn đã có đơn gửi UBND huyện Vân Đồn với nội dung: “Hiện gia đình ông đang quản lý sử dụng 40.000m2 đất gồm có các loại: đất thổ cư 400m2; đất ruộng và vườn tạp 34.600m2; đất đồi trồng cây 5.000m2, nay dự án thu hồi 16.000m2 đất vườn tạp, đất ở thì việc canh tác sau này của gia đình gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, gia đình đề nghị xin chỉ nhận số tiền bồi thường về hoa màu, tài sản trên đất; không nhận tiền bồi thường về đất, gia đình cho dự án lấy phần đất nổi để làm công trình, sau khi lấy xong trả lại diện tích mặt bằng trên cho gia đình để gia đình tiếp tục canh tác, sản xuất” (theo trình bày của ông Thuấn, mục đích của ông không nhận bồi thường về đất là để đổi lấy việc đơn vị thi công phải thu hồi hết phần đất nổi, hạ thấp độ cao của đồi tạo diện tích bằng phẳng).
Ngày 5-11-2009, UBND huyện Vân Đồn đã ban hành Quyết định số 1722/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất của hộ gia đình ông Thuấn là 16.336,48m2, gồm các loại: đất ở 250,48m2; đất vườn 7.298m2, đất lâm nghiệp 8.788m2, thời hạn thu hồi là 12 tháng. Hết thời hạn thu hồi thì giao cho UBND xã Đài Xuyên lập hồ sơ điều chỉnh đúng hiện trạng đất, cùng với Phòng TN&MT làm thủ tục trả lại đất cho hộ ông Thuấn và trình cấp có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông.
Tháng 11-2009, đơn vị thi công đã bốc xúc lấy phần đất đồi tại địa điểm đất đã thu hồi của hộ gia đình ông Thuấn. Tuy nhiên, khi bốc xúc đất để thi công công trình, đơn vị thi công chỉ lấy một phần đất đồi, không lấy hết phần đất nổi như yêu cầu, vì vậy diện tích đất còn lại của gia đình ông Thuấn bị dở dang, nham nhở.
Trước hiện trạng trên ông Thuấn đã có đơn kiến nghị gửi các cơ quan chức năng của huyện Vân Đồn, Sở NN&PTNT và UBND tỉnh với nội dung: Hiện nay dự án đã thực hiện xong, đề nghị các cơ quan xem xét giải quyết trả lại mặt bằng diện tích đất đã tạm thu và làm thủ tục giao lại đất để gia đình canh tác sản xuất. Nếu không trả lại được mặt bằng thì tính toán khối lượng bốc xúc đất, san lấp mặt bằng quy ra thành tiền trả để gia đình tự cải tạo, san lấp thành mặt bằng, đồng thời bồi thường cho gia đình các thiệt hại phát sinh do quá thời hạn thu hồi đất nhưng UBND huyện chưa trả lại diện tích đất đã tạm thu. Ngoài ra, ông Thuấn cũng yêu cầu Sở NN&PTNT chỉ đạo đơn vị thi công bốc xúc đất ở diện tích còn lại bằng cốt đường đi và đổ đất mầu trên toàn bộ diện tích để gia đình ông nhận lại canh tác hoặc đo đạc xác định khối lượng tính theo đơn giá quy định để bồi thường kinh phí cho gia đình tự san lấp mặt bằng.
Ông Thuấn cho rằng công trình đã thi công xong, hộ gia đình ông phải được nhận lại mặt bằng như nội dung đơn ban đầu và Quyết định số 1722/QĐ-UBND của UBND huyện Vân Đồn (mặt bằng mà ông yêu cầu ở đây là độ cao cốt nền phải bằng với mặt đường). Về phía Sở NN&PTNT cho rằng việc sử dụng đất của ông Thuấn nhà thầu đã thực hiện theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt. Việc đơn vị thi công không lấy hết phần đất của ông là do khối lượng đất quá lớn, trong khi nhu cầu của công trình chỉ cần một phần nhỏ, chưa kể là đất tại khu vực đó không đảm bảo tiêu chuẩn để đắp đập. Còn về phía nhà thầu là Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Hải Dương lại cho rằng họ thực hiện lấy đất theo hồ sơ thiết kế, theo phương án đã phê duyệt. Công trình sửa chữa đập nước chỉ cần một khối lượng đất đá nhất định, nếu lấy hết phần đất đồi của gia đình ông Thuấn thì không biết đổ đất đi đâu bởi số lượng đất đá đó đủ dùng cho 10 công trình khác và cũng không có kinh phí để thực hiện điều “không tưởng” đó. Theo tính toán của nhà thầu, nếu san bằng quả đồi của gia đình ông Thuấn thì sẽ mất khoảng 4-5 tỷ đồng. Theo quan sát của chúng tôi, quả đồi nơi đơn vị thi công lấy đất có độ cao khoảng 20m, hiện tại đơn vị thi công chỉ lấy một phần đất dưới thấp và cũng đã san lấp bằng phẳng. Tuy nhiên, với hiện trạng dở dang và nham nhở như trên thì ông Thuấn khó mà canh tác được.
Sở NN&PTNT cho rằng lỗi là do huyện ban hành Quyết định số 1722/QĐ-UBND ngày 5-11-2009 thu hồi 12 tháng là chưa phù hợp vì dự án khai thác đất lấy tầng đất mặt dưới, chưa được cải tạo, không thể sử dụng ngay vào sản xuất nông, lâm nghiệp được. Căn cứ quy định tại Điều 45 Luật Đất đai năm 2003 quy định trưng dụng đất có thời hạn chỉ áp dụng trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp khác.
Rõ ràng là huyện quá sơ suất trong việc ban hành một văn bản thu hồi đất không đúng luật. Bởi lẽ huyện không ban hành quyết định thu hồi đất vĩnh viễn, không lập phương án bồi thường, hỗ trợ và giải quyết tái định cư đối với hộ ông Thuấn theo quy định mà đã ban hành quyết định thu hồi đất tạm thời đối với gia đình ông là không đúng quy định của Luật Đất đai, Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP ngày 29-10-2004 và các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Về phía Sở NN&PTNT là chủ đầu tư đã triển khai thực hiện dự án, thuê đơn vị thi công bốc xúc lấy phần đất đồi tại địa điểm đất của hộ gia đình ông Thuấn trong khi chưa có thủ tục thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định và chưa có giao nhận mặt bằng. Mặt khác, trong quá trình thực hiện dự án đã thiếu khảo sát thực địa, kiểm tra, giám sát, để đơn vị thi công thực hiện lấy đất trong khi chưa xác định được nhu cầu cụ thể dẫn đến gây ảnh hưởng cho người dân và những phức tạp rắc rối của vụ việc “đào lấy đất trả mặt bằng” này.
Chính vì những sai sót của chính quyền huyện Vân Đồn và Sở NN&PTNT đã tạo “điều kiện” cho người dân khiếu kiện và phần thua tất nhiên thuộc về chính quyền. Vấn đề bây giờ là làm sai thì phải khắc phục hậu quả, vì vậy huyện Vân Đồn cần phải có giải pháp xử lý dứt điểm vụ việc của ông Thuấn, tránh để người dân khiếu kiện kéo dài.
Bảo An