Khu phố Lò Vôi đã được tháo dỡ, các bức tường cũng đã được đập đổ để tạo mặt bằng thi công con đường quanh núi Bài Thơ, một công trình có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, những ngày này công trường còn bề bộn. Từ Vụng Oản nhìn vào thấy cả nửa phần chân núi không một chút màu xanh cây lá, mặt đá xám trơ ra trong nắng nung và trong mưa xối, tôi giật mình nghĩ tới bài thơ vô giá của vua Lê Thánh Tông, một di sản văn hoá vật thể đặc biệt cần giữ gìn cho muôn đời. Nói dại, chỉ cần anh lái máy xúc vô ý quệt nhẹ gàu vào chân núi đúng chỗ có bài thơ thì chẳng lẽ... đem anh ta ra xử bắn.
Ai cũng biết mùa xuân năm 1468 vị Hoàng đế kiệt xuất Lê Thánh Tông đi tuần du vùng biển Đông Bắc đã cho đậu thuyền ở nơi này. Trước cảnh nước non hùng vĩ, kỳ ảo, thanh bình, nhà vua - nhà thơ lớn Lê Thánh Tông đã xúc động viết nên bài thơ bất hủ ngợi ca trời biển nơi này, gợi lại chiến công hiển hách và sức mạnh giữ nước rồi khẳng định “Sông núi nước Nam ta bền vững muôn đời” (Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại), bây giờ là lúc ra sức xây dựng một đất nước văn minh (Chính thị tu văn yển vũ niên). Bài thơ có ý nghĩa như một tuyên ngôn độc lập và hoà bình được nhà vua cho mài đá khắc vào núi để lại cho muôn đời sau. Núi Rọi Đèn, tên chữ là núi Truyền Đăng, được gọi là núi Bài Thơ từ đó. Gần 300 năm sau, năm 1729, chúa Trịnh Cương trong một lần đến Hạ Long đã cảm khái trước bài thơ liền làm một bài thơ hoạ nguyên vần bài thơ của vua Lê. Trải mưa nắng thời gian, bài thơ khắc sau còn gần như nguyên vẹn, rất tiếc là bài thơ của Lê Thánh Tông sau 543 năm đã bị mòn vẹt, chỉ còn đọc được một nửa số chữ, chủ yếu là do nước mưa chảy tràn xuống. Còn như vậy ta càng cần cố giữ…
Đã có nhiều ý kiến nhấn mạnh cần tôn tạo di tích vô giá này nhưng mấy chục năm qua ta mới chỉ làm được việc dỡ bỏ mái bếp của nhà dân tì vào vách núi trùm luôn cả hai bài thơ. Bây giờ toàn bộ phố Lò Vôi đã san bằng, không chỉ hết sức thuận lợi cho việc bảo vệ mà còn có thể xây dựng ngay công trình tôn tạo. Tôi xin kiến nghị là nên xây ở đây một ngôi đền thờ vua Lê Thánh Tông. Vua Lê Thánh Tông (1470-1497) ở ngôi 38 năm với hai niên hiệu là Quang Thuận và Hồng Đức đã dốc sức bảo vệ bờ cõi và làm cho đất nước phát triển rực rỡ về mọi mặt. Riêng với vùng đất Quảng Ninh, hồi đó gọi là An Bang, được nhà vua đặc biệt quan tâm, nhất là sự toàn vẹn lãnh thổ và an bình vùng biên giới. Nhà vua là nhà thơ lớn, đứng đầu Tao đàn nhị thập bát tú. Ông là nhà vua làm nhiều thơ nhất về vịnh Hạ Long, cả thơ nôm và thơ chữ Hán, trong đó có bài “Đề Truyền Đăng sơn”. Khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông đã cử Lê Niệm, một quan chức trẻ tài cao học rộng ra đứng đầu An Bang. Mang dòng máu anh hùng (là cháu nội dũng sĩ Lê Lai, người đã “liều mình cứu chúa”), Lê Niệm vừa giữ yên bờ cõi vừa làm cho vùng Đông Bắc này phồn thịnh.
Nhớ ơn Lê Thánh Tông, khi còn là TX Hòn Gai, chúng ta đã có một quyết định chính xác là đặt tên đường phố chính chạy dài giữa lòng thị xã là đường Lê Thánh Tông. Song Quảng Ninh vẫn thiếu một ngôi đền thờ Lê Thánh Tông. Mấy năm trước đã có ý đề xuất việc xây đền thờ Lê Thánh Tông trên dốc Bồ Hòn. Theo tôi, xây đền thờ Lê Thánh Tông ngay nơi Người đề thơ là đúng chỗ nhất, lại vừa tựa vào núi vừa liền kề Vịnh Hạ Long. Cần tính toán kỹ khi thiết kế, có thể khéo bố cục để hai bài thơ có mái che bảo vệ và tôn vinh, đó là hậu cung ngôi đền, cũng có thể tạo thành một không gian liền kề hài hoà với ngôi đền, vừa bảo vệ vừa tôn vinh vừa tạo được không gian thưởng ngoạn hai bài thơ đó. Như vậy đây sẽ là nơi thu hút khách du lịch và đông đảo bà con xa gần, một điểm dừng đặc sắc giữa đoạn đường uốn quanh chân núi rất độc đáo chỉ có ở Hạ Long. Bây giờ mới bổ sung vào quy hoạch và thiết kế công trình tuy muộn nhưng còn kịp, đừng để “mọi sự đã rồi”, hai bài thơ lại bị nắng mưa huỷ hoại và ta mang tội vô cảm, vô ơn trước lịch sử, trước tiền nhân, không đợi hậu thế mà người đương thời sẽ lên án...
Nhân đây cũng xin đề nghị ngành Văn hoá tỉnh và các cơ quan chức năng tiến hành ngay việc khảo sát vách núi Bài Thơ phía biển để tìm các bài thơ khác đã khắc trên vách đá lâu nay bị nhà cửa, cây cối che khuất hoặc không có lối cho thuyền áp sát các hang hườm để phát hiện. Trên vách đá chắc chắn đã có nhiều bài thơ thời Nguyễn. Trước hết là 2 bài thơ của Nguyễn Cẩn. Ông nguyên là Tuần phủ Quảng Yên hồi đầu thế kỷ 20 song ông còn là nhà thơ với bút hiệu Hương Khuê. Ông viết nhiều sách, riêng về thơ có 2 tập được nhiều người nhớ là “Hương Khuê thi tập” và “Hương Khuê thi loại”. Trước đây các nhà nghiên cứu mới tìm thấy bài thứ hai nhan đề “Trùng đề Truyền Đăng sơn” (Lại đề núi Truyền Đăng), còn bài làm trước “Đề Truyền Đăng sơn” lại chưa thấy. Sau Nguyễn Cẩn, những năm 1924, 1925, nhiều nhóm văn nhân, trí thức du ngoạn Hạ Long đã làm thơ và khắc vào vách núi Bài Thơ. Bà Đào Thị Thoa có “Bài ca chơi Vịnh Hạ Long” bằng chữ quốc ngữ. Các ông Vũ Tuân, Vũ Đại, Dương Tự Nhụ... khắc những bài bát cú và tứ tuyệt. Một số báo chí đương thời đã tường thuật mấy chuyến du ngoạn, làm thơ và khắc thơ vào vách núi Truyền Đăng này. Ta cần tìm và bảo tồn, bởi tất cả đều đã là di sản văn hoá của kỳ quan Hạ Long…
Trên đây là những đề xuất thật sự cấp bách, hy vọng không bị rơi vào im lặng.
Tống Khắc Hài
(Phường Bãi Cháy, TP Hạ Long)