Ngày 30/10/1963, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa II đã thông qua Nghị quyết hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh. Từ một quyết sách mang tầm chiến lược đối với vùng Đông Bắc của Tổ quốc, Quảng Ninh bước vào một chặng đường phát triển mới, từng bước khẳng định vị thế bằng ý chí vượt khó, truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" và khát vọng không ngừng đổi mới.
Từ quyết định lịch sử năm 1963
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đối với vùng Đông Bắc - địa bàn giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh và là trung tâm công nghiệp than lớn nhất cả nước - yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo thống nhất, phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển ngày càng trở nên cấp thiết.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, hòa bình được lập lại trên miền Bắc. Khu mỏ là nơi tập kết 300 ngày của quân đội Pháp trước khi chúng rút quân. Để tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiếp quản Khu mỏ, tháng 2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng trên cơ sở sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên.
Trước đó, ngày 8/8/1954, tỉnh Hải Ninh hoàn toàn giải phóng. Đến ngày 25/4/1955, khu Hồng Quảng cũng hoàn toàn giải phóng. Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh đã phối hợp chặt chẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, tạo điều kiện cho công cuộc khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế ở địa phương. Tuy vậy, về mặt kinh tế, mỗi tỉnh có đặc điểm và ưu thế khác nhau, nhưng chưa hỗ trợ cho nhau cùng phát triển, nếu hợp nhất sẽ tạo thuận lợi cho kinh tế và quốc phòng cả vùng Đông Bắc phát triển đều hơn và nhanh hơn.
Xét thấy việc hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành một đơn vị hành chính có nhiều điểm thuận lợi về kinh tế, quốc phòng. Đầu tháng 7/1963, Ban Thường vụ Khu ủy Hồng Quảng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Ninh đã tổ chức Hội nghị liên tịch bàn và nhất trí đề nghị Trung ương hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành một đơn vị hành chính.
Ngày 4/10/1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng có công văn gửi Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn Bộ Nội vụ, Văn phòng Nội chính, Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Khu uỷ Hồng Quảng và Tỉnh uỷ Hải Ninh về việc: “Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thống nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng làm một tỉnh” để nghiên cứu kế hoạch thi hành.
Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, ngày 7/10/1963, Ban Thường vụ Khu ủy Hồng Quảng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Ninh họp Hội nghị liên tịch ra nghị quyết về việc hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh. Nghị quyết nêu rõ: “Việc hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh là một yêu cầu khách quan, hoàn toàn phù hợp với lợi ích trước mắt và lâu dài của nhân dân 2 tỉnh, không những có lợi to lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, dân tộc và cán bộ mà còn có lợi ích to lớn về mặt quân sự và quốc phòng”.
Theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày 30/10/1963, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa II đã ra Nghị quyết, quyết nghị phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh.
Về sự kiện này, Bác Hồ đã gợi ý gọi là Quảng Ninh, do ghép chữ Quảng (của khu Hồng Quảng) và chữ Ninh (của tỉnh Hải Ninh) mà thành. Với tên gọi này vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại có nhiều ý nghĩa. “Quảng” là rộng lớn. “Ninh” là yên bình, bền vững. Quảng Ninh ghép vào với nghĩa là một vùng rộng lớn, yên bình, bền vững.
Ngày 18/11/1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết 85 hợp nhất hai Đảng bộ. Sau hợp nhất, đồng chí Nguyễn Thọ Chân, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Hồng Quảng, được Trung ương chỉ định là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh. Đồng chí Hoàng Chính, Bí thư Tỉnh ủy Hải Ninh được chỉ định làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh. Các cơ quan nhà nước ở hai tỉnh cũng lần lượt được hợp nhất làm một.
Từ ngày 1/1/1964, tỉnh Quảng Ninh đi vào hoạt động chính thức, tạo thành một thể liên hoàn cả về chính trị, kinh tế, quân sự, phát huy được sức mạnh tổng hợp của vùng Đông Bắc rộng lớn của Tổ quốc.
Việc thành lập tỉnh Quảng Ninh là một dấu mốc quan trọng, tạo điều kiện để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh bước vào thời kỳ cách mạng mới; vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam.
Mở ra một hành trình mới
Từ dấu mốc thành lập tỉnh, Quảng Ninh bước vào hành trình vừa xây dựng, vừa chiến đấu, cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Trong gian khó của chiến tranh, truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" tiếp tục được tôi luyện, trở thành sức mạnh để quân và dân Quảng Ninh bảo vệ vùng mỏ, giữ vững sản xuất và từng bước xây dựng nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Ngay sau khi được thành lập, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã phát huy sức mạnh của vùng Đông Bắc rộng lớn, cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho miền Nam đấu tranh giải phóng dân tộc. Với tinh thần “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", quân và nhân dân Quảng Ninh bất chấp bom rơi, đạn nổ, vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu thắng lợi, bảo vệ và ổn định đời sống nhân dân.
Bước vào giai đoạn cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là khi bước vào thời kỳ đổi mới, mặc dù phải đối mặt với bộn bề khó khăn khi xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh thuộc hàng thấp nhất so với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đời sống nhân dân vô cùng thiếu thốn. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức và giành được những thành tựu to lớn, nhiều mặt nổi bật, mang tính tiên phong và đột phá, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và phát triển đất nước.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 1991 đến nay luôn nằm trong tốp các địa phương cao của cả nước, nhiều năm liên tiếp tăng trưởng trên 2 con số. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, năm 2025 đạt 368.445 tỷ đồng, cao gấp 103 lần so với năm 1986; GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 10.402 USD. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đạt được nhiều kết quả tích cực, ngày càng đi sâu vào chất lượng.
Nhìn tổng thể, từ một tỉnh còn yếu kém phải dựa vào hỗ trợ của Trung ương, Quảng Ninh hôm nay đã vươn lên trở thành một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc đổi mới sáng tạo của vùng đồng bằng Bắc Bộ, một cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc; hướng tới trở thành thành phố xanh, thông minh, hiện đại, văn minh, giàu bản sắc; là động lực, cực tăng trưởng năng động, sáng tạo và là một trong những địa phương hình mẫu về phát triển nhanh, bền vững.
Thời khắc lịch sử của tỉnh Quảng Ninh 63 năm về trước đã lựa chọn trao gửi, đặt lên vai các thế hệ cán bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh sứ mệnh vẻ vang, trách nhiệm lớn lao. Thế hệ hôm nay vẫn đang viết tiếp những trang sử hào hùng, dựa vào nền tảng văn hóa, khí chất, phẩm giá con người Vùng mỏ kiên cường, bất khuất, “Kỷ luật và Đồng tâm”, đoàn kết, sáng tạo, hào sảng, khí khái được chung đúc từ chiều dài của lịch sử, chiều sâu của văn hóa.
Những thành quả trong chặng đường 63 năm qua chính là điểm tựa vững chắc tiếp thêm sức mạnh mới, động lực mới, khí thế mới để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp nối vun đắp những giá trị cốt lõi của Quảng Ninh bằng tinh thần kiên định và sức vươn mạnh mẽ vì một tương lai tươi sáng, cùng cả nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.