Lịch sử nửa thế kỷ của nền lập Hiến Việt Nam được đánh dấu bằng 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 mà thời điểm ra đời của mỗi Hiến pháp gắn với thời điểm có tính chất trọng đại của cả dân tộc.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3 tháng 9 năm 1945 Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ, trong đó có nhiệm vụ là xây dựng Hiến pháp. Sau đó Chính phủ thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người do Chủ tích Hồ Chí Minh đứng đầu. Vào ngày 9 tháng 11 năm 1946 tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá 1, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Có thể nói nền lập Hiến Việt Nam chính thức bắt đầu với bản Hiến pháp 1946. Nó là cơ sở, làm khung Hiến định đáp ứng nhu cầu không chỉ trước mắt mà cả lâu dài của một đất nước vừa thoát khỏi chế độ thực dân, phong kiến đang bước vào cộng đồng các quốc gia độc lập để xây dựng một Nhà nước thực sự dân chủ.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong khi đó miền Nam còn tạm thời bị chiếm đóng, đất nước vẫn bị chia cắt. Trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, cũng như ngoại giao ở nước ta sau những năm 1945 đã thay đổi cơ bản. Vì vậy, Hiến pháp 1946 không còn phù hợp với điều kiện, nhiệm vụ mới. Sự cần thiết phải có một Hiến pháp phù hợp, cụ thể hoá hai đường lối chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra (Xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam) đồng thời phải tính đến đặc điểm của hai miền và ưu tiên cách mạng ở miền Nam. Đó là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng Hiến pháp 1959. Sau một thời gian làm việc, ngày 18 tháng 12 năm 1959 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi và ngày 31 tháng 12 năm 1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi.
Đây là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Việt Nam và lần đầu tiên vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi nhận bằng đạo luật cơ bản của Nhà nước. Hiến pháp 1959 là Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cương lĩnh đấu tranh thống nhất nước nhà. Hiến pháp năm 1959 vừa khẳng định trên cơ sở kế thừa nhiều quy định của Hiến pháp 1946, vừa phát triển các chế định của Hiến pháp này và đưa cả nền lập Hiến Việt Nam vào một quỹ đạo mới, đó là nền lập hiến Xã hội chủ nghĩa.
Sau những năm 1975 tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta đã có sự thay đổi căn bản. Cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới. Vì vậy Hiến pháp 1959 không còn phù hợp, sự cần thiết phải có một Hiến pháp mới để thể chế hoá đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới. Quốc hội khoá VI tại kỳ họp thứ 6 đã ra nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp 1959, ngày 18 tháng 12-1980 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới. Hiến pháp 1980 gồm có “Lời nói đầu” và 12 Chương (trong đó có 147 Điều) được ban hành khi cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã giành được thắng lợi trọn vẹn.
Với Hiến pháp 1980, nước ta bắt đầu một thời kỳ mới: cả nước thống nhất quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ này chúng ta thực hiện cơ chế quản lý hành chính, bao cấp, quan liêu, mệnh lệnh và thiết lập một cơ chế kế hoạch hoá cao độ nền kinh tế quốc dân.
Sau những năm 1980 mặc dù đất nước đã được thống nhất nhưng tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội ở nước ta đã diễn ra hết sức phức tạp. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những yếu kém sai lầm của Đảng, của Nhà nước trên cơ sở đó có nhận thức mới về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đề ra những chủ trương chính sách mới. Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12 năm 1988 Quốc hội khoá VIII tại kỳ họp thứ 3 đã ra Nghị quyết về việc sửa đổi “Lời nói đầu” của Hiến pháp 1980 (phần về đối ngoại). Đến kỳ họp thứ V Quốc hội khoá VIII (30-6-1989) Quốc hội lại ra Nghị quyết sửa đổi 7 điều (Điều 57, 115, 116, 118, 122, 123, 125) của Hiến pháp 1980; đồng thời ra Nghị quyết về việc sửa đổi cơ bản Hiến pháp 1980. Sau nhiều lần chỉnh lý, bổ sung, đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân, ngày 15-4-1992, Quốc hội khoá VIII đã biểu quyết thông qua Hiến pháp 1992.
Hiến pháp 1992 ra đời cách bản Hiến pháp 1980 chỉ 12 năm và một sự trùng hợp ngẫu nhiên là cũng bao gồm “Lời nói đầu” và 12 Chương (trong đó có 147 Điều). Đây là một khoảng thời gian hoàn toàn không dài nhưng đó là giai đoạn có tính lịch sử bởi lẽ diễn ra những thay đổi sâu sắc: từng bước đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp để xác định cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xét về mặt cơ cấu, bố cục Hiến pháp 1992 vẫn giữ nguyên vị trí trật tự các Chương của Hiến pháp 1980. Tuy nhiên xét về nội dung, nhiều Chương của Hiến pháp 1992 đã có sự thay đổi, bổ sung căn bản, phù hợp với đường lối đổi mới. Hiến pháp 1992 xứng đáng được xem là một giai đoạn phát triển mới của nền lập hiến Việt Nam, đó là bản Hiến pháp của nước Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Lời nói đầu của Hiến pháp 1992 về cơ bản cũng giống như lời nói đầu của các Hiến pháp trước, ghi nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam và xác định những nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
Hơn nửa thế kỷ lịch sử, đã lần lượt ban hành 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946 của chặng đường vừa kháng chiến vừa kiến quốc; Hiến pháp 1959 của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà; Hiến pháp 1980 của thời kỳ đất nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội; và Hiến pháp 1992 thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi bản Hiến pháp phản ánh tình hình thực tế của đất nước và nhiệm vụ chính trị của sự nghiệp cách mạng ở từng thời kỳ lịch sử cụ thể và đã tạo nên quá trình xây dựng và phát triển nền lập pháp và nền hành chính Việt Nam ở kỷ nguyên đất nước độc lập và thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hiến pháp là đạo luật gốc, là đạo luật mẹ, là cơ sở pháp lý để Nhà nước ta xây dựng và ban hành các đạo luật khác và mặt khác Hiến pháp còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước thành pháp luật. Tìm hiểu quá trình lịch sử của việc xây dựng Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ có ý nghĩa quan trọng để mỗi công dân nghiên cứu tham gia đóng góp ý kiến của mình khi tham gia dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang được triển khai mạnh mẽ trong cả nước.