Từng khai thác than thuê ở nhiều nơi, Nguyễn Viết Quang (SN 1977, tại thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều), biết khu vực đồi Khe Cam, xã Thượng Yên Công, TP Uông Bí có cửa lò than bỏ không, trong đường lò còn than, nên đã bàn với Nguyễn Thị Mai (SN 1969, cùng khu phố) tổ chức khai thác than, bán lấy tiền chia nhau. Mai sốt sắng nhận lời, rồi bỏ tiền mua sắm vật tư, thiết bị phục vụ khai thác than và gọi Nguyễn Huy Long (SN 1960, cùng khu phố), Nguyễn Văn Ngọc (SN 1958, tại tỉnh Hải Dương), Bùi Văn Dũng (SN 1972 tại TP Uông Bí) là những người thân, đến trao đổi việc tổ chức khai thác than. Khi cả 3 người trên đồng ý, Mai giao cho Long quản lý, giám sát hoạt động tại điểm khai thác than; Ngọc quản lý bãi tập kết than, cách điểm khai thác khoảng 2km và bán than thu tiền cho Mai; Dũng giám sát các chuyến xe chở than từ cửa lò đến bãi tập kết than. Nguyễn Viết Quang nhận trách nhiệm thuê “cửu vạn”, lo hậu cần và trả tiền công cho số “cửu vạn” khai thác than, được Mai trả 200.000 đồng/tấn than ra lò.
Để triển khai việc đã bàn, Mai mua máy bơm nước, máy nổ, xe ô tô tải…, thuê Bùi Văn Tháp (SN 1968), Bùi Văn Mạnh (SN 1992, đều trú tại TX Đông Triều), Lê Văn Đậu (SN 1973, tại tỉnh Hải Dương) lái xe vận chuyển than từ cửa lò ra bãi tập kết than, mỗi chuyến Mai trả cho lái xe 80.000 đồng, cho phụ xe 30.000 đồng. Việc chấm chuyến ô tô để tính khối lượng than, Mai giao cho Phạm Văn Dương (SN 1971 tại TP Uông Bí, người quen) đảm nhiệm. Còn Quang đến một số địa phương thuê đủ số lượng “cửu vạn” rồi đem về khu vực cửa lò, dựng lán trại, ổn định nơi ở.
Đầu tháng 7/2014, theo sự chỉ đạo của Mai, Quang, đường lò được khôi phục, tiến hành khai thác than. Mai thuê Nguyễn Văn Tuyên (SN 1971, tại tỉnh Hải Dương) ngồi tại lán khu máng rót than để chấm chuyến số goòng than khai thác được, bằng cách ghi goòng than được đẩy ra đến máng rót, rồi phát xèng cho tổ trưởng (xèng tròn cho loại goòng 1 tấn, xèng vuông cho loại goòng 0,8 tấn). Hết ca, người nhận xèng cộng lượng than khai thác, để lấy tiền công cho tổ. Suốt thời gian dài, việc khai thác, tiêu thụ than diễn ra suôn sẻ. Đột nhiên khoảng 4h ngày 7/1/2015, tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ - Công an tỉnh xuất hiện, bắt quả tang Đinh Đức Tâm (SN 1985, tại TX Quảng Yên), Hoàng Văn Vương (SN 1988), Trần Văn Phương (SN 1970), Vũ Văn Vững (SN 1978, đều trú tại TP Uông Bí), Nguyễn Văn Nghi (SN 1969, tại tỉnh Thái Bình), Nguyễn Văn Sáng (SN 1981, tại TX Đông Triều), Hờ A Sềnh (SN 1979), Giàng A Thềnh (SN 1996), Vàng A Sùng (SN 1986), Sùng A Lâu (SN 1995, đều trú tại tỉnh Yên Bái) đang khai thác, chuyển than từ trong lò ra máng rót, để vận chuyển than đi tiêu thụ. Công an thu tại hiện trường 54,17 tấn than nguyên khai, 2 xe ô tô tải hiệu U Ran (không BKS), 3 thùng phuy đựng dầu (mỗi thùng 170 lít), 2 máy phát điện, 2 máy khoan (kèm 2 mũi khoan), 4 máy bơm nước, 10 cây gỗ chống lò, nhiều sổ sách, giấy tờ ghi chép việc khai thác than.
Biết không thể thoát tội, ngày 26/3/2015, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Viết Quang, Nguyễn Huy Long, Nguyễn Văn Ngọc, Bùi Văn Dũng ra đầu thú.
Theo văn bản số 1278 ngày 26/3/2015 của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, xác định: Đường lò bị khai thác than trái phép dài 975 mét, lượng than nguyên khai đã khai thác 9.715 tấn, tương đương với lượng than đã ghi chép trong sổ thu giữ của Nguyễn Văn Tuyên và Phạm Văn Dương. Ngày 23/4/2015, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Ninh kết luận 9.715 tấn than tương đương với than cám 4b, có giá 12,845 tỷ đồng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, các bị cáo đã có hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”, quy định tại khoản 2, điều 172 BLHS. Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Viết Quang khai nhận: Thấy cửa lò than ở giữa khu rừng vắng vẻ, xa dân, bỏ hoang, qua xem xét trong đường lò còn có vỉa than. Nếu tổ chức khai thác, vận chuyển than vào ban đêm, sẽ không bị phát hiện, nên đã đầu tư, thuê người khai thác than. Thực tế việc khai thác, tiêu thụ than diễn ra nhiều tháng rất thuận lợi. Không ngờ đã bị cơ quan điều tra theo dõi, phát hiện bắt giữ. Bị cáo biết khai thác than trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì có thu nhập khá, nên đã làm liều, nay hối hận thì đã quá muộn, mong Tòa mở lượng khoan hồng cho bị cáo.
Với các bị cáo còn lại đều có lời khai: Bị cáo làm ruộng ở quê, trong những tháng nhàn rỗi, được Quang rủ đi làm than thuê, sẽ được trả công, tưởng phải bỏ sức lao động, có thu nhập là chính đáng, nên đã nhận lời khai thác than cho Quang trong vài tháng. Chỉ sau khi bị bắt, ngồi trong trại giam và hôm nay đứng trước Tòa, mới biết mình phạm tội với vai trò là đồng phạm, giúp sức. Vì không hiểu pháp luật, suy nghĩ nông cạn mà phạm tội, mong Tòa xem xét, xử bị cáo mức án thấp nhất, để sớm đoàn tụ với gia đình.
Xét tính chất, hậu quả của vụ án, vai trò, nhân thân của từng bị cáo, đối chiếu điều luật hình sự, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt Vũ Viết Quang, Nguyễn Thị Mai mỗi bị cáo từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù, 18 bị cáo còn lại mỗi bị cáo từ 10 tháng đến 30 tháng tù. Đồng thời tịch thu sung công quỹ phương tiện phục vụ khai thác than trái phép; buộc các bị cáo phải nộp ngân sách, khoản tiền thu lợi bất chính.
Doãn Thuận (CTV)