Khe Tam - Vườn Hồng giữa lòng rừng

Như một đứa con sinh ngoài ý muốn - Khe Tam vốn là mỏ nhỏ buộc phải ra đời để giữ tài nguyên trước nạn than thổ phỉ hoành hành cách đây 15 năm về trước. Tôi ngước nhìn những vạt rừng keo xanh già chạy suốt từ đỉnh núi xuống lòng thung, bao phủ tận các khu nhà thợ mỏ và hiểu rằng: giữa miền rừng khắc nghiệt này, rất nhiều biến cố đã đi qua.

* Hồi ức chiến binh

Kỹ sư Nguyễn Văn Huấn, Giám đốc Xí nghiệp Than Khe Tam (Công ty Than Hạ Long) - một trong số “chiến binh” đầu tiên của mỏ - nhớ lại: Tôi có mặt ở đây vào đầu những năm 90. Đấy là những ngày Khe Tam vừa thành lập. Cả mỏ chỉ có khoảng bảy chục con người. Chúng tôi cắm lán làm việc và ăn nghỉ ngay trên khai trường. Công việc chính là giữ tài nguyên. Bởi vì khắp miền rừng khuất nẻo này, dày đặc “than thổ phỉ”. Thổ phỉ phá trụi rừng; thổ phỉ khoét “hang chuột”; thổ phỉ đánh chông xe ô tô; thổ phỉ cướp than... Nạn sập lò, chết chóc và cả những cuộc thôn tính tàn bạo diễn ra như cơm bữa. Những năm ấy, nói đến con đường Ngã Hai Dương Huy, dân yếu bóng vía ngán đến cổ. Càng vào sâu, cảnh tượng càng hãi hùng. Núi đồi trơ trụi, hệt như bầy thú khổng lồ bị lột da. Ngày đó, tôi mới hơn 20 tuổi, đang yêu. Vậy mà nhiều khi cả tháng không được nhìn mặt người thương nhớ lấy một lần. Có lúc chỉ bởi một lý do vô cùng vớ vẩn: bộ quần áo vừa thay xong, ra đến đường thị xã đã như móc dưới lỗ lên, chán quá, đành bỏ quay về. Mùa mưa còn khủng khiếp hơn. Đất đá trút đầy đường. Nước vây tiếp phẩm không vào nổi. Một người bạn tôi chỉ sểnh chân đã bị lũ cuốn phăng. Cuộc sống của thợ mỏ nơi lòng thung này là một cuộc sống tạm bợ, trần trụi, buồn tênh. Đó là năm 1994.

Khe Tam - Vườn Hồng giữa lòng rừng ảnh 1

Cụm quạt công suất 60 Kw thay thế hệ thống quạt thông gió cục bộ tại các đường lò nâng cao hiệu quả sản xuất và đảm bảo ATLĐ tại Xí nghiệp Than Khe Tam (Công ty Than Hạ Long).


Mùa xuân năm 1995, một năm sau thành lập mỏ, Khe Tam bắt đầu mở chiến dịch trồng rừng khôi phục môi sinh. Đó cũng là cách khẳng định chủ quyền tài nguyên, đẩy than thổ phỉ ra khỏi hành lang mỏ. Một công việc hoàn toàn không dễ dàng. Tổng diện tích 273ha đất đồi, mỗi năm song song với mở rộng khai thác than, Khe Tam phải phủ xanh trung bình 20ha rừng. Keo gối nhau mà lên. 5 năm, 15 năm... Giờ đây, già nửa ranh giới mỏ đã trở thành rừng. Lòng thung là nơi xanh dày nhất. Bóng lá xen lẫn những công trình mái đỏ: khu văn phòng; nhà tập thể; nhà văn hóa công nhân; bể bơi; sân bóng, hồ nuôi cá... và rực rỡ nhất là khuôn viên 15.000m2 với đài phun nước, hoa hồng đang mùa nở rộ cùng với hoa đồng tiền, cúc, tầm xuân và rất nhiều loài cây khác - dấu hiệu của một cuộc sinh tồn dài lâu hoàn toàn đối lập với thuở ban sơ. Chợt nhớ trong câu chuyện với anh Bùi Đình Trung, giám đốc tiền nhiệm của Khe Tam cách đây không lâu, anh Trung bảo: “Chỗ mỏ mình ngày xưa, mấy năm nay vào tiết mưa phùn đã nghe có tiếng hoẵng kêu...” Vâng, mùa xuân hoẵng kêu ở đâu, ở đó yên bình. Đấy là điềm lành. Với nghề thợ lò, yên bình luôn là một giấc mơ.

* Đọ sức với số phận

Trong cộng đồng nghề lò của Công ty Than Hạ Long (TKV), Khe Tam là một số phận không được nuông chiều. 2 vùng khai thác chính gồm Đông Bắc Ngã Hai và Tây Ngã Hai, vùng thứ nhất trữ lượng tài nguyên chỉ còn khoảng 1 triệu tấn than. Vùng thứ hai trữ lượng 57 triệu tấn nhưng thực tế chỉ có thể khai thác khoảng 10 triệu tấn bởi lẽ đi xa hơn sẽ bập vào địa tầng rừng đầu nguồn mặc dù Khe Tam là một vùng than có chất lượng lý tưởng. Vấn đề cơ giới hóa khai thác ở đây càng khó khăn hơn do địa chất không ổn định; vỉa nhỏ; độ nghiêng lớn; đứt gãy nhiều. Tỷ suất đầu tư cao nhưng hiệu quả thấp. Trong khi đó, với đội ngũ trên 600 thợ lò, 75% là thợ lành nghề và thợ bậc cao, độ tuổi trung bình 27 - một lực lượng hùng hậu có thể khai thác 1 triệu tấn than/năm không quá nhọc nhằn. Thế nhưng sự eo hẹp của tài nguyên chỉ cho phép Khe Tam thực hiện trung bình từ 360 - 400 nghìn tấn mỗi năm. Và đây là bi kịch của một cơ thể vạm vỡ dưới lần áo chật. Đối với Khe Tam, bài toán phức tạp nhất phải giải quyết là bài toán giá thành. Đầu tư công nghệ là con đường không thể khác. Trong vòng 3 năm trở lại đây, mỗi năm mỏ đầu tư không dưới 30 tỷ đồng cho đổi mới phương tiện và thiết bị. Tuy nhiên, đầu tư như thế nào lại là một thực tế không đơn giản. ở Khe Tam, cùng với việc đưa giá chống thủy lực vào lò nghiêng, lực lượng cơ khí của mỏ đã tự thiết kế, lắp đặt toàn bộ hệ thống băng tải trên 2.000m chạy suốt từ gương lò đến tận khu chế biến sàng tuyển, thay thế toàn bộ hệ thống vận tải đường goòng. Đặc biệt là hệ thống băng tải được thiết kế bảo đảm hoạt động an toàn ngay cả trong điều kiện đường lò dốc hơn mức bình thường từ 26 - 27 độ. Kết nối liên tục với mạng băng tải này, hệ thống sàng tuyển than được lắp đặt ngay tại cửa lò sản xuất. Than ra đến đâu, lập tức được tuyển chọn, phân loại thành 4 loại thành phẩm và tiếp tục theo hệ thống băng chuyền chạy qua một hệ thống tuyển tinh hoặc đi thẳng về bãi chứa. Cách làm này hàng năm đã giảm hẳn cho Khe Tam một nguồn chi phí khổng lồ về lao động và vận tải. Một giai đoạn vượt trội về năng suất và sản lượng thực sự bắt đầu.

Tại lò giếng mức +32 xuống - 95, kỹ sư Nguyễn Mạnh Hùng, Quản đốc Phân xưởng Khai thác 4 cho biết: “chúng tôi đã thay đổi toàn bộ hệ thống quạt thông gió cục bộ trong các đường lò bằng các cụm quạt hút tập trung công suất lớn đặt từ bên ngoài. Như vậy là cùng lúc, giảm được thợ vận hành, loại bỏ được tiếng ồn, gây căng thẳng cho người thợ, tiết kiệm năng lượng điện và đặc biệt hạn chế được nguyên nhân chập, hở nguồn gây cháy nổ”. Rõ ràng, sự đầu tư đồng bộ, biết tính toán một cách kỹ lưỡng, căn cơ không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế thuần túy cho Khe Tam, đó còn là điều kiện tiên quyết giữ cho mỏ liên tục trong nhiều năm không xảy ra tổn thất do mất ATLĐ. Đây cũng chính là cuộc đọ sức của 1.200 thợ mỏ Khe Tam chuẩn bị cho những bước xuống sâu hơn với sản lượng 2 triệu tấn than/năm tại 2 vùng khai thác mới Khe Chàm 2 và 4 sau năm 2010. ở đây, một ý tưởng đúng đã làm thay đổi hoàn toàn số phận.

* Hoa hồng tặng cho ai?

Tôi ngắm mãi vạt hồng Pháp dài tới năm chục mét chạy dọc bức tường khuôn viên khu văn phòng mỏ Khe Tam. Những bông hồng cánh dày mọng, nở xòe đặt vừa lòng bàn tay nhưng không phô nhụy, man mác thơm. Giám đốc Nguyễn Văn Huấn bảo: “Loại hồng này ghép trên gốc hoa tầm xuân nên cực khỏe. Đây là vạt hồng đầu tiên do một thợ mỏ của đây quê ở đất trồng hoa gây thử. Tôi sẽ cho nhân khắp khuôn viên và khu tập thể giống hồng này”. Tôi hiểu tâm trạng của Huấn - anh đang nghĩ tới gần 600 thợ lò đang sống trong các khu nhà tập thể phía sau lưng. Bếp ăn, thực phẩm tươi bây giờ không thiếu. Cũng không thiếu máy thu hình, sách đọc, bãi bóng và sân cầu lông nhưng có một điều, dường như người ta không nghĩ tới hoa. ở đây luôn có những gương mặt được xem là niềm tự hào của mỏ? Đó là: Phân xưởng Khai thác 4, đơn vị vượt định mức sản lượng 20% dẫn đầu toàn Tập đoàn; là các thợ lò chiến sĩ thi đua: Lê Văn Lừng, Hoàng Văn Lương, Nguyễn Mạnh Hùng; là các lái xe mỏ Dương Duy Đức, Lê Thanh Bào, Lý Đức Chiến... Cuộc sống gian lao đẹp lên rất nhiều vì những gương mặt ấy. Vậy thì tại sao lại có thể thiếu được màu hoa - sự dịu dàng thật cần cho thực tại?

Trong câu chuyện giữa chúng tôi, Huấn tiết lộ một điều khá bất ngờ, rằng hiện tại, Khe Tam vẫn đang còn lại khoảng 30/70 thợ lò từng là dân đào than thổ phỉ được mỏ nhận vào làm cách đây trên 10 năm. Tất cả đều đã được gửi vào trường đào tạo sau 3 năm đầu thử thách và giờ đây đều là thợ lành nghề. Nhiều người trở thành đốc công, trưởng ca. Quản đốc Phân xưởng khai thác I - Trần Văn Vân là một trong những gương mặt ấy. Một số khác trưởng thành được điều động sang các đơn vị mới. ở đây, lòng bao dung chính là điểm tựa vững chãi nhất, biến 1.200 thợ mỏ Khe Tam thành một cộng đồng kỷ luật và mạnh mẽ. Bí thư Đảng ủy mỏ Trần Đại Nghĩa cho biết: “Năm 2009, sản lượng than Khe Tam tạm phải rút xuống 3.100 tấn. Nhưng chúng tôi sẽ chuyển sang thực hiện 1.500m lò xây dựng cơ bản, chuẩn bị cho những năm tiếp theo. Dù khủng hoảng như thế nào, thu nhập bình quân của thợ lò Khe Tam vẫn không thể thấp hơn mức 6,7 triệu đồng/người so với năm 2008. Dứt khoát thợ thuyền không ai phải ngồi chờ việc”.

Tôi lại nghĩ đến ý tưởng về vườn hồng của Huấn. Đó không hề là sự không tưởng. Nhưng để có được một vườn hồng giữa vùng rừng khắc nghiệt này, những người thợ mỏ Khe Tam đã phải vật lộn suốt 15 năm ròng để làm xanh lại mảnh đất cằn cỗi của mình. Và bây giờ, mùa hoa đầu tiên đã nở. ở đây, hoa hồng không tặng riêng ai.

Cùng chuyên mục