Chăm sóc sức khoẻ người lao động (NLĐ) có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp doanh nghiệp (DN) bảo đảm tốt nguồn nhân lực, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều DN vừa và nhỏ vẫn chưa quan tâm đúng mức công tác này.
Cả DN và người lao động đều lơ là
Tìm đến dãy nhà trọ tại khu công nghiệp Cái Lân, TP Hạ Long, chúng tôi gặp anh Nguyễn Văn Nam, một công nhân xây dựng. Anh Nam cho biết: “Tôi làm nghề này được 5 năm rồi, nhưng chưa bao giờ được chủ sử dụng lao động cho đi khám sức khoẻ. Do phải thường xuyên tiếp xúc với khói bụi nên bản thân thường xuyên bị viêm đường hô hấp, chân tay đau nhức. Mỗi lần bị bệnh thì tự tôi phải đi khám, mua thuốc về uống”. Còn như chị Trần Thị Thoa, nhân viên lễ tân của một khách sạn lớn ở khu vực Vườn Đào, phường Bãi Cháy, TP Hạ Long thì chia sẻ: “Một năm, Công ty tôi mới tổ chức khám sức khoẻ 1 lần. Mà người lao động chúng tôi chỉ quan tâm chính đến thu nhập, làm sao cho đủ tiền ăn, tiền nhà, chứ cũng không quan tâm mấy đến việc khám sức khoẻ. Công ty tổ chức khám thì chúng tôi đi, còn không thì chúng tôi cũng không để ý”.
Theo Điều 152, Bộ Luật Lao động sửa đổi (năm 2012) quy định: “Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho NLĐ, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản; người làm việc nặng nhọc, độc hại, NLĐ là người khuyết tật, NLĐ chưa thành niên, NLĐ cao tuổi phải được khám sức khoẻ ít nhất 6 tháng 1 lần. NLĐ làm việc trong điều kiện có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp phải được khám bệnh nghề nghiệp”. Tuy nhiên, theo thống kê từ Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, đến nay, mới chỉ có 51 đơn vị là các doanh nghiệp lớn (có từ trên 200 lao động trở lên) thường xuyên gửi báo cáo về công tác khám sức khoẻ cho người lao động về Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh. Tính đến nay, tổng số lao động được khám sức khoẻ định kỳ trên địa bàn là khoảng 37.000/45.869 người. Trong đó, có khoảng 18.000 người có sức khoẻ loại III, 3.000 người có sức khoẻ lại IV và khoảng 200 người có sức khoẻ loại V. Không những vậy, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh cũng đã thực hiện đo đạc yếu tố độc hại ảnh hưởng đến sức khoẻ NLĐ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, với 4.172 mẫu đo, kết quả có gần 500 mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép.
Ông Ninh Văn Chủ, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh cho biết: “Hầu hết việc khám sức khoẻ cho người lao động chỉ được quan tâm, thực hiện ở một số doanh nghiệp nhà nước hoặc một số doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước có quy mô lớn (trên 200 người lao động), chẳng hạn như: Công ty CP Than Núi Béo, Công ty Kho vận Cẩm Phả... Còn lại, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có sự quan tâm đúng mức. Nhiều DN có tổ chức khám nhưng không đầy đủ so với số lượng lao động tại DN”.
Nguyên nhân do đâu?
Việc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thực sự quan tâm tới công tác chăm sóc sức khoẻ người lao động xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Theo ông Ninh Văn Chủ, lực lượng cán bộ y tế để quản lý công tác chăm sóc sức khoẻ cho người lao động còn hạn chế, trong khi số lượng DN trên toàn tỉnh lại lớn (4.000 đơn vị). Nhiều DN thường xuyên thay đổi địa điểm nên công tác quản lý cũng khó khăn hơn. Không những vậy, do chưa có chế tài xử phạt nghiêm nên vẫn chưa đủ sức răn đe đối với những đơn vị vi phạm.
Theo điều 19, Nghị định số 47/2010/NĐ-CP của Chính phủ, nếu doanh nghiệp vi phạm những quy định về bảo đảm an toàn sức khoẻ cho người lao động (không thực hiện chế độ bồi dưỡng hiện vật cho người làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại; không tổ chức khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động hoặc khám sức khoẻ định kỳ không đủ số lượng lao động...) sẽ bị phạt thấp nhất là 300.000 đồng đối với doanh nghiệp vi phạm dưới 10 lao động và cao nhất là 20 triệu đồng đối với doanh nghiệp vi phạm với 500 lao động trở lên. Trong khi đó, nếu doanh nghiệp có nhiều lao động có thể mất hàng trăm triệu đồng để chi trả cho việc khám, chữa bệnh cho người lao động mỗi năm. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp khi thực hiện khám và phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động, họ phải thực hiện việc chuyển đổi, bố trí vị trí làm việc cho người lao động mắc bệnh nghề nghiệp. Do đó, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chần chừ, chưa thực sự quan tâm đúng mức tới công tác này...
Chính vì vậy, để công tác chăm sóc sức khoẻ cho người lao động tại các doanh nghiệp thực sự hiệu quả, trước hết cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành, đoàn thể chuyên môn. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến về Luật Lao động để chủ sử dụng lao động và người lao động ý thức được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình cần được tăng cường. Không những vậy, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động đối với các DN sản xuất trên địa bàn phải được chú trong hơn, có hình thức xử phạt nghiêm minh đối với những đơn vị vi phạm. Tuy nhiên, ý thức của chủ các DN vẫn là vấn đề mấu chốt. Vì lợi ích của người lao động và của chính doanh nghiệp, các chủ doanh nghiệp cần tự giác, chủ động phối hợp với cơ sở y tế để thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là lương tâm của mỗi chủ DN đối với người lao động.
Trúc Linh