Sinh thời, kỹ sư Nguyễn Đức Phan là chuyên gia đào giếng đứng đầu tiên trong ngành Than được đào tạo từ Liên Xô. Ông là một nhà quản lý, nhà lãnh đạo xây dựng cơ bản mỏ và năng lượng tài năng, hiệu quả.
Ông Nguyễn Đức Phan sinh năm 1936, quê ở TX Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 1955 đến năm 1961, ông sang Liên Xô học ngành khai thác mỏ tại Đại học mỏ Matscova. Năm 1961, ông về nước và bắt đầu sự nghiệp làm mỏ của mình tại Khu mỏ Hồng Quảng.
Ngay khi ra Hồng Quảng, ông Phan về công tác tại Phòng kỹ thuật của Mỏ than Hà Lầm, thuộc Công ty Than Hòn Gai (tiền thân của TKV ngày nay). Sau đó, ông được bổ nhiệm là Phó Quản đốc Công trường +34, rồi Quản đốc Công trường +25, Mỏ than Hà Lầm. Từ năm 1965, ông Phan chuyển sang làm Trưởng phòng Quản lý thi công Công trường xây dựng mỏ Mông Dương thuộc Công ty Than Hòn Gai.
Từ năm 1966 đến 1967, ông chuyển về làm Phó trưởng phòng thi công Công ty Xây lắp 3 thuộc Bộ Điện và Than. Chưa dứt mối duyên nghiệp với Mông Dương nên trong suốt hai năm sau đó ông dẫn đoàn thực tập sinh gồm 104 cán bộ kỹ thuật, công nhân hầm lò sang Vùng mỏ Kuzbass miền Tây Xiberi (Liên Xô cũ) thực tập thi công đào lò, trang bị, vận hành giếng đứng mỏ than, đào lò xây dựng cơ bản.
Năm 1969, ông về tham gia khôi phục và xây dựng mỏ than Mông Dương làm Phó chỉ huy trưởng Công trường Xây lắp mỏ Mông Dương - mỏ giếng đứng đầu tiên ở nước ta. Ông Đoàn Văn Kiển, nguyên Tổng Giám đốc TKV, nhớ lại: "Những ngày trở lại Mông Dương của anh Phan thật đáng tự hào, anh đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm trí cán bộ, công nhân Xí nghiệp Xây lắp 6, Ban kiến thiết Mỏ than Mông Dương và Đoàn chuyên gia Liên Xô".
Từ năm 1976, ông Nguyễn Đức Phan về Hà Nội công tác, lần lượt đảm nhiệm qua các chức vụ: Trưởng phòng, Phó Vụ trưởng Vụ kỹ thuật; Phó Cục trưởng Cục Xây dựng cơ bản, Bộ Điện và Than, Vụ trưởng Vụ Xây dựng cơ bản, Thứ trưởng Bộ Mỏ và Than, Thứ trưởng Bộ Năng lượng, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp. Trong suốt 37 năm công tác, ông đã để lại những dấu ấn sâu đậm của mình tại các công trình xây dựng các mỏ than hầm lò như: Mông Dương, Vàng Danh, Mạo Khê, Khe Tam, Khe Chàm, Khe Bố, Làng Cẩm; các mỏ than lộ thiên như: Cao Sơn, Núi Béo, Khánh Hòa, Núi Hồng và các nhà máy tuyển than: Cửa Ông, Hòn Gai; các nhà máy cơ khí Trung tâm Cẩm Phả, Đại tu ô tô Cẩm Phả; các tuyến đường sắt Cửa Ông - Mông Dương, Mông Dương - Cao Sơn v.v.
Ông Phạm Phi Châu, nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cơ khí Năng lượng và Mỏ thuộc Bộ Năng lượng, nhớ lại: “Sống chan hòa với anh em, không quan cách, bác Phan còn rất giỏi tiếu lâm, mỗi chặng đường xa nghe bác kể chuyện tiếu lâm mọi người đều cười rũ rượi, chẳng riêng cán bộ ta, cả mấy chuyên gia người Nga cũng phá lên cười. Vui và lạc quan là thế nhưng bác Phan sống chừng mực, tự kiểm soát được mình. Thế hệ chúng tôi may mắn được làm việc dưới quyền bác Phan và nhiều cán bộ lãnh đạo khác, họ lao động quên mình vì hạnh phúc mọi người, chung lưng đấu cật gỡ khó cho cấp dưới”.
Với những cống hiến to lớn của mình, ông Nguyễn Đức Phan đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ ghi nhận công lao và tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Nhì, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ông qua đời vào tháng 2/2016, tại Hà Nội, hưởng thọ 81 tuổi.
Huỳnh Đăng
[links()]