Dân số và phát triển: Khi Nghị quyết đi vào cuộc sống

Thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ”, thời gian qua, tỉnh đã tập trung triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và hiệu quả. 10 năm sau khi Nghị quyết đi vào cuộc sống, việc thực hiện các chính sách dân số đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Qua đó, từng bước cải thiện đời sống và trình độ dân trí của nhân dân, đồng thời, góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 

Cán bộ dân số xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu tuyên truyền chính sách DS-KHHGĐ cho người dân bản Phai Lầu. (Ảnh do Trung tâm DS-KHHGĐ huyện cung cấp)
Cán bộ dân số xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu tuyên truyền chính sách DS-KHHGĐ cho người dân bản Phai Lầu. (Ảnh do Trung tâm DS-KHHGĐ huyện cung cấp)

Đẩy mạnh khâu truyền thông

Để việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ đạt hiệu quả, tỉnh chú trọng đổi mới nội dung và hình thức của công tác truyền thông dân số gắn với nhiệm vụ của ngành, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương. Hoạt động tuyên truyền, vận động và giáo dục về DS-KHHGĐ được mở rộng cả về phạm vi, đối tượng, phương pháp thực hiện. Từ tỉnh đến cơ sở tổ chức đa dạng các hoạt động truyền thông qua kênh thông tin đại chúng phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng, miền; đẩy mạnh truyền thông trực tiếp với nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đối tượng vị thành niên - thanh niên. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của người có uy tín trong cộng đồng dân cư, nhằm nâng cao nhận thức, từng bước chuyển đổi hành vi của mọi tầng lớp nhân dân.

Hàng năm, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tăng cường tuyên truyền, vận động thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chính sách dân số. Tiêu biểu như: Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh tăng thời lượng phát sóng trong các dịp kỷ niệm, các tháng cao điểm; Báo Quảng Ninh mở các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về chủ trương, chính sách dân số; Sở GD-ĐT đưa nội dung dân số, sức khoẻ sinh sản (SKSS) vị thành niên - thanh niên vào sinh hoạt ngoại khoá tại các trường THPT; Uỷ ban MTTQ tỉnh xây dựng mô hình truyền thông gắn việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, mô hình hoạt động DS-KHHGĐ ở khu vực có đông giáo dân... Thời gian qua, tỉnh đã biên tập, cung cấp 14.000 cuốn tài liệu dân số, 3.280 cuốn sổ tay chăm sóc SKSS, 165.000 tờ rơi phòng, chống buôn bán và lạm dụng trẻ em tới đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số và người dân trên địa bàn tỉnh; xây dựng các cụm pa nô tuyên truyền trên trục đường chính, khu vực đông dân cư ở các địa phương...

Cùng với đó, toàn tỉnh cũng tổ chức nhiều đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ đến vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn ở 186 xã, phường, thị trấn. Nhờ đó, góp phần cải thiện rõ rệt tình trạng SKSS của phụ nữ, nhất là phụ nữ nghèo; tăng nhanh tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được đi khám thai đủ 3 lần đạt 75,3%, được tiêm phòng uốn ván đạt 99,5%, được cán bộ y tế chăm sóc khi sinh đạt 91,7%, được tư vấn xét nghiệm HIV chiếm 90%. Dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân, đảm bảo thuận tiện, an toàn. Hầu hết các trạm y tế xã đều được trang bị phương tiện kỹ thuật làm dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ; 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; trên 80% trạm y tế xã thực hiện được các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ thông thường…

Tập trung đầu tư nguồn lực

Bên cạnh thực hiện nghiêm túc các chính sách DS-KHHGĐ, những năm qua, tỉnh ban hành nhiều Nghị quyết về bố trí và quy định mức trợ cấp đối với cộng tác viên hoạt động công tác xã hội ở các thôn, bản, khu phố; chính sách hỗ trợ người trong độ tuổi sinh đẻ tự nguyện thực hiện biện pháp triệt sản và hỗ trợ các xã, phường, thị trấn 2 năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên... Theo đó, đội ngũ cán bộ dân số các thôn, bản, khu phố được bổ sung thêm phụ cấp tương đương 0,2 lần mức lương tối thiểu từ nguồn ngân sách địa phương. Từ nguồn ngân sách địa phương, tỉnh hỗ trợ nâng mức phụ cấp cho cộng tác viên từ 210.000 đồng/người/ tháng (năm 2010) lên 230.000 đồng/người/tháng (năm 2014). Tổng ngân sách tỉnh chi cho công tác dân số tăng qua các năm, từ 6,9 tỷ đồng (năm 2005) lên 13,1 tỷ đồng (năm 2014).

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh tích cực huy động sự vào cuộc của các cấp, ngành, đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp làm tốt công tác xã hội hoá cho việc triển khai thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động của Ban DS-KHHGĐ ở địa phương. Tiêu biểu là các đơn vị: Hạ Long, Móng Cái, Đông Triều, Đầm Hà, Uông Bí…

10 năm sau khi thực hiện Nghị quyết, các mục tiêu DS-KHHGĐ của tỉnh cơ bản đạt, vượt kế hoạch đề ra. Số người tham gia KHHGĐ, tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai ngày càng tăng, trung bình đạt gần 73%. So với năm 2005, tỷ suất sinh thô năm 2014 tăng từ 14,8 phần nghìn lên 17,25 phần nghìn;  tổng tỷ suất sinh duy trì ổn định, từ 1,9 lên 2,09 con; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 7,75% xuống còn 4,78%; tỷ số giới tính khi sinh giảm từ 121 nam/100 nữ xuống 115 nam/100 nữ; tỷ lệ dân số từ 15-64 tuổi đạt cao, tăng từ 65,1% lên 71,8%...

Hoàng Anh

Cùng chuyên mục