Ngày 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội tiến hành thảo luận tại tổ để cho ý kiến vào các dự án luật. ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã tập trung tham gia góp ý vào các dự án: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Phát biểu tại tổ, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, cho rằng: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản đã tiếp thu nhiều kiến nghị của các địa phương, góp phần tháo gỡ khó khăn trong quản lý, khai thác khoáng sản. Đại biểu kiến nghị làm rõ quy định về thời hạn trữ lượng huy động và công suất khai thác để tránh tình trạng phải điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, gây chậm tiến độ sản xuất. Đồng thời, bổ sung quy định thử nghiệm công nghệ đối với các loại khoáng sản mà Việt Nam chưa có công nghệ chế biến sâu như đất hiếm, titan.
Về thời hạn ưu tiên nộp hồ sơ cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 1, đại biểu đề xuất kéo dài lên 48 tháng nhằm bảo đảm đủ thời gian lập và phê duyệt dự án đầu tư, đánh giá tác động môi trường. Ngoài ra, đại biểu đề nghị chỉnh sửa, làm rõ quy định về cấp lại, gia hạn, tiếp tục khai thác sau khi giấy phép hết hiệu lực, cũng như nội dung về cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 để tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong áp dụng. Bên cạnh đó, sửa quy định về khu vực khoáng sản trong quy hoạch, nhằm bảo đảm tính khả thi và có cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xác định nguồn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến sâu.
Về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đại biểu đặc biệt quan tâm đến các nội dung sửa đổi tại Điều 34, Điều 35, Điều 39, Điều 42, Điều 47, Điều 49, Điều 51 và Điều 52. Theo đại biểu, việc dự thảo cho phép chủ dự án nộp hồ sơ đánh giá tác động môi trường đồng thời với hồ sơ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi là phù hợp nhằm rút ngắn thời gian, nhưng cần quy định rõ cơ chế phối hợp giữa hai khâu để bảo đảm chất lượng thẩm định. Bởi thực tế, nhiều thông số kỹ thuật quan trọng như công nghệ, quy mô, vị trí… thường chỉ được chốt sau khi báo cáo nghiên cứu khả thi được thẩm định. Do đó, cơ quan thẩm định môi trường phải có đủ thông tin về phương án thiết kế cơ sở và công nghệ xử lý để tránh tình trạng đánh giá tác động môi trường hình thức, phải chỉnh sửa nhiều lần sau khi dự án được phê duyệt.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung, làm rõ quy định tại khoản 6 Điều 35 đối với các dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đang hoạt động, nay mở rộng quy mô hoặc nâng công suất. Cần xác định rõ căn cứ pháp lý để thực hiện thủ tục môi trường đối với những dự án này, tránh khoảng trống pháp lý và sự lúng túng cho cơ quan thực hiện. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định cho các loại hình dự án đặc thù như trồng dược liệu dưới tán rừng, lắp đặt điện mặt trời, phát triển du lịch sinh thái gắn với rừng… vốn chưa có tiêu chí rõ ràng về sử dụng đất và mặt nước, dễ dẫn tới vướng mắc khi triển khai.
Liên quan đến khoản 9 Điều 1 của dự thảo, đại biểu kiến nghị làm rõ phạm vi miễn giấy phép môi trường đối với các dự án không thuộc diện phải lập đánh giá tác động môi trường theo Luật Địa chất và khoáng sản, để tránh hiểu sai, lợi dụng kẽ hở gây vi phạm. Đồng thời, đề nghị thay cụm từ “thay đổi khác” trong khoản 11 Điều 42 bằng cụm từ “dự án đầu tư mở rộng” để làm rõ trường hợp nào cần điều chỉnh, cấp lại giấy phép môi trường, giúp quá trình quản lý thống nhất, minh bạch hơn.
Về nội dung sửa đổi tại Điều 51 và 52, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà đề nghị bổ sung quy định cho phép các khu phụ trợ trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp lân cận được đấu nối và sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong điều kiện còn công suất và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Đây là đề xuất có tính thực tiễn cao, giúp tiết kiệm nguồn lực đầu tư, bảo đảm quản lý môi trường đồng bộ.
Đại biểu cũng đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung tại Điều 47 để xử lý linh hoạt các trường hợp thay đổi thẩm quyền cấp giấy phép môi trường do quy định mới của luật, tránh phát sinh thủ tục phức tạp khi chuyển giao thẩm quyền giữa Bộ và địa phương. Đồng thời, nên xem xét miễn yêu cầu vận hành thử nghiệm lại đối với các cơ sở đã hoạt động ổn định, không thay đổi công nghệ và đạt tiêu chuẩn môi trường, vì quy định hiện nay gây tốn kém, thiếu thực tiễn. Đáng chú ý, đại biểu nêu rõ thực tế ở các địa phương ven biển như Quảng Ninh hiện chưa có tiêu chí cụ thể cho vùng đệm ven biển, dẫn đến khó khăn khi lập quy hoạch bảo vệ môi trường vùng bờ. Đại biểu đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành hướng dẫn chi tiết về phân vùng rủi ro môi trường vùng biển, xác định rõ hành lang bảo vệ bờ biển, quy chuẩn kỹ thuật và mốc giới quản lý.
Tham gia góp ý vào dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản, đại biểu Trần Thị Kim Nhung, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, nêu rõ: Khái niệm về khai thác khoáng sản trong dự thảo còn chưa thống nhất. Theo quy định hiện hành, khai thác khoáng sản là hoạt động đưa khoáng sản ra khỏi nơi thành tạo tự nhiên, tuy nhiên dự thảo lại bao gồm cả các khâu phân loại, làm giàu. Cần làm rõ khái niệm “khoáng sản nguyên khai” và cách tính tiền cấp quyền khai thác để tránh hiểu khác nhau, nhất là trong quyết toán thu ngân sách. Đại biểu cũng nêu thực tế nhiều vướng mắc trong quy định thu hồi khoáng sản phát sinh khi người dân, doanh nghiệp xây dựng công trình hoặc cải tạo đất. Nhiều thủ tục xin phép, phân loại, đánh giá khiến việc thu hồi đất, cát, đá trong phạm vi nhỏ lẻ trở nên phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Đại biểu đề nghị sửa đổi các quy định liên quan để giảm thủ tục không cần thiết, đảm bảo tính khả thi.
Đối với điều khoản chuyển tiếp, đại biểu đề nghị rà soát lại các quy định về thời hạn cấp phép và gia hạn khai thác cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, vì nếu áp dụng cứng 10 năm sẽ gây ách tắc, tăng chi phí và thiếu vật liệu cho các dự án đầu tư công. Đại biểu cũng đề xuất phân cấp mạnh hơn cho UBND cấp tỉnh trong việc cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 1 để rút ngắn thời gian và phù hợp chủ trương phân quyền. Liên quan Luật Lâm nghiệp, đại biểu lưu ý việc đơn giản hóa thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng cần thận trọng, tránh buông lỏng quản lý, ảnh hưởng đến chỉ tiêu độ che phủ rừng và mục tiêu bảo vệ môi trường. Đồng thời, đề nghị quy định rõ cơ chế tài chính và trách nhiệm trồng rừng thay thế để đảm bảo minh bạch, thống nhất với Luật Ngân sách Nhà nước.
Các ĐBQH tỉnh cũng tham gia nhiều ý kiến đóng góp vào các dự án: Luật Chuyển đổi số; Luật Công nghệ cao (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ.