Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, ngày 19/8, Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia.
Phát biểu thảo luận, đại biểu Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, Tổ trưởng tổ thảo luận đề nghị đối với Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), cần làm rõ phương thức hợp nhất với Luật Đầu tư công, bảo đảm đơn giản hóa quy trình, khắc phục chồng chéo, không để phát sinh khoảng trống pháp lý; đồng thời quan tâm việc hợp nhất kế hoạch tài chính 5 năm với kế hoạch đầu tư công trung hạn, phân cấp, phân quyền trong quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách, nhất là trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, đại biểu đề nghị làm rõ sự cần thiết, phương thức tích hợp các chương trình; bảo đảm mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời xác định rõ cơ chế phân bổ, lồng ghép, điều chuyển nguồn lực và cơ chế chuyển tiếp.
Đại biểu Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh cho rằng, việc hợp nhất Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước, đồng thời tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Theo đại biểu, trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội và đầu tư công giai đoạn 2026-2030 rất lớn, cần đặc biệt coi trọng hiệu quả từng đồng vốn ngân sách. Dự thảo Luật cần chú trọng đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của cả các dự án đầu tư và các khoản chi thường xuyên.
Đại biểu đề nghị giảm các quy định cứng về tỷ lệ chi ngân sách trong một số lĩnh vực: Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số... để phù hợp với điều kiện, nhu cầu thực tế của từng địa phương. Tinh thần chung là Trung ương xác định mục tiêu, cơ chế và thực hiện giám sát; địa phương chủ động quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm.
Về tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu giảm chi phí hành chính, khắc phục sự phân tán, chồng chéo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Giai đoạn 2026-2030, nguồn lực dành cho 4 chương trình khoảng 808.558 tỷ đồng, do đó, cần trao quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương trong lựa chọn chương trình, nhiệm vụ, thời điểm và phương thức triển khai để đạt mục tiêu đề ra. Đối với nguồn tăng thu và dự phòng ngân sách, đại biểu cho rằng cần xây dựng dự toán sát thực tế, nâng cao chất lượng phân tích, dự báo nguồn thu; đồng thời tăng tính chủ động cho địa phương trong sử dụng nguồn dự phòng, trước hết để xử lý các nhiệm vụ phát sinh như thiên tai, dịch bệnh. Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi phải vừa bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, vừa tạo điều kiện để địa phương chủ động nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng.
Về huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư hạ tầng, đề nghị không nên quy định cứng tỷ lệ vốn tư nhân trong các dự án PPP. Tùy điều kiện từng địa phương, Nhà nước có thể tham gia ở mức khác nhau, vấn đề quan trọng là công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công, quản trị đầu tư tư nhân. Khi đầu tư các công trình hạ tầng, cần tính toán khả năng tạo tác động lan tỏa, khai thác hiệu quả quỹ đất và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực. Đại biểu cũng đề nghị luật chỉ quy định những vấn đề chung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn các nội dung cụ thể nên giao Chính phủ và địa phương hướng dẫn linh hoạt, tránh quy định quá chi tiết khiến pháp luật nhanh lạc hậu, khó sửa đổi khi thực tiễn thay đổi. Đồng thời, đại biểu cho rằng cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục thuế, giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; qua đó khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh.
Đóng góp ý kiến, đại biểu Vũ Ngọc Lâm, Phó Giám đốc Sở Tài chính, ĐBQH tỉnh cơ bản thống nhất với dự thảo Luật Ngân sách Nhà nước (hợp nhất), đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định để tháo gỡ vướng mắc thực tiễn, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đại biểu đề nghị luật hóa tiêu chí, nguyên tắc, phương pháp đánh giá hiệu quả dự án, phân định rõ trách nhiệm giữa giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư và giai đoạn thực hiện dự án, tránh quy trách nhiệm không phù hợp đối với những nội dung mới chỉ mang tính sơ bộ. Về thủ tục đầu tư, cần nghiên cứu đơn giản hóa hoặc không bắt buộc bước chủ trương đầu tư đối với các dự án nhỏ; việc thảo luận dự toán ngân sách cũng nên thực hiện theo nhu cầu, tránh phát sinh thủ tục không cần thiết.
Đối với nguồn tăng thu ngân sách địa phương, đại biểu đề nghị mở rộng phạm vi sử dụng và cho phép địa phương xử lý, phân bổ ngay trong năm khi đã xác định được nguồn, qua đó phát huy hiệu quả nguồn lực. Về chương trình mục tiêu quốc gia, cần tránh đồng nhất với chương trình đầu tư công bởi nguồn vốn thực hiện gồm cả vốn đầu tư công và chi thường xuyên. Về dự phòng ngân sách, đề nghị cho phép sử dụng không chỉ đối với nhiệm vụ cấp bách mà cả những nhiệm vụ cần thiết phát sinh ngoài dự toán đầu năm. Đồng thời, rà soát các quy định về thẩm quyền của Thường trực HĐND để bảo đảm thống nhất với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tránh phát sinh thêm thủ tục.
Đại biểu lưu ý bất cập trong ghi thu, ghi chi, đối trừ tiền sử dụng đất. Theo đó, khoản tiền nhà đầu tư ứng trước để giải phóng mặt bằng không thực sự tạo nguồn thu bằng tiền cho địa phương nhưng vẫn được tính vào cơ chế điều tiết ngân sách, trong khi địa phương phải bỏ nguồn lực thực tế. Đại biểu đề nghị nghiên cứu tháo gỡ vấn đề này, nhất là đối với những địa phương có nhiều dự án đầu tư như Quảng Ninh, nơi có những năm số tiền đối trừ lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cơ bản đồng tình và đánh giá cao việc Chính phủ, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự thảo Luật Ngân sách nhà nước trên cơ sở hợp nhất các quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công. Đại biểu cho rằng việc hợp nhất là cần thiết, phù hợp với yêu cầu tổ chức lại các bộ, ngành và cơ quan tài chính ở địa phương; đồng thời tạo điều kiện rà soát, xử lý những nội dung trước đây được quy định tại hai luật riêng biệt.
Góp ý về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc hợp nhất và hệ thống khái niệm, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, không chỉ dừng ở việc tích hợp cơ học các quy định của hai luật mà phải bảo đảm tính thống nhất, logic của toàn bộ dự thảo. Các quy định chuyên ngành về đầu tư công cần được hệ thống hóa, tập trung vào trình tự, thủ tục chuẩn bị đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, quản lý và tổ chức thực hiện dự án; đồng thời rà soát, sắp xếp lại hệ thống khái niệm để tránh trùng lặp, thiếu logic.
Về nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước, đề nghị quy định chặt chẽ các trường hợp khoản thu gắn với nhiệm vụ chi cụ thể. Theo đại biểu, nguyên tắc cốt lõi là các khoản thu phải được tổng hợp đầy đủ, cân đối chung, hạn chế việc gắn cứng nguồn thu với nhiệm vụ chi vì có thể làm giảm tính linh hoạt trong điều hành và phát sinh nguy cơ lãng phí nguồn lực. Trường hợp vẫn quy định ngoại lệ, cần luật hóa rõ các trường hợp, đồng thời quy định cụ thể quy trình lập, chấp hành, quyết toán và xử lý phần kinh phí còn dư khi nhiệm vụ chi không sử dụng hết nguồn thu.
Đối với quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ các khái niệm như “khả năng tài chính độc lập”, “hoạt động độc lập”, “nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước”, qua đó tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Về phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách. Đề nghị rà soát, loại bỏ những quy định trùng lặp giữa các điều khoản, bảo đảm thống nhất với các quy định về trách nhiệm của HĐND và phân cấp ngân sách giữa cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời, cần tránh lặp lại những nội dung đã được quy định tại các điều khoản khác của dự thảo.
Về quỹ dự trữ tài chính, đại biểu đề nghị làm rõ hoặc bỏ quy định về “các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật”; nghiên cứu giảm mức trần số dư quỹ dự trữ tài chính hiện được quy định không quá 25% dự toán chi ngân sách hằng năm, hoặc giao HĐND cấp tỉnh quyết định mức phù hợp với thực tiễn địa phương. Đại biểu dẫn thực tế tại Quảng Ninh, với mức trần này, số dư quỹ dự trữ tài chính có thể lên tới khoảng 6.000-7.000 tỷ đồng. Trong khi đó, ngân sách hằng năm đã bố trí dự phòng từ 2-5%, các trường hợp được phép sử dụng trực tiếp quỹ dự trữ tài chính còn hạn chế, nên việc duy trì mức trần 25% có thể làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn vốn, trong khi nguồn lực này có thể được đưa vào đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, đại biểu đề nghị rà soát, gộp những quy định trùng lặp, loại bỏ các cụm từ không cần thiết và những nội dung liệt kê quá chi tiết về hành vi kỹ thuật chuyên ngành, nhằm bảo đảm điều luật có tính khái quát, cô đọng. Về kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch đầu tư công 5 năm, đề nghị nghiên cứu không lập riêng kế hoạch đầu tư công 5 năm mà tích hợp nội dung này trong kế hoạch tài chính 5 năm, qua đó khắc phục tình trạng chồng chéo, giảm thời gian và thủ tục trong quá trình xây dựng, triển khai. Đại biểu cũng đề nghị rà soát, thống nhất các quy định về xử lý tăng thu, giảm thu, tiết kiệm chi và chuyển nguồn giữa các điều khoản của dự thảo, nhất là về thời điểm phân bổ, hạch toán và chuyển nguồn, nhằm tránh mâu thuẫn, bảo đảm đúng nguyên tắc hạch toán và điều hành ngân sách…