Ngày 26/10, Quốc hội nghe Chủ nhiệm UBPL của Quốc hội Nguyễn Văn Hiện trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ Luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), tiếp đó Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn có kiến khác nhau của dự thảo Luật này. Cùng tham gia phát biểu, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh có đại biểu Ngô Thị Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Đại biểu Ngô Thị Minh đồng tình cao với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) và đồng tình với nhiều nội dung đã nêu trong Bộ luật và tham gia một số nội dung sau:
Về nguồn chứng cứ được quy định tại Khoản 10, Điều 94. Tại Khoản 10, Điều 94 quy định: "Các nguồn khác mà pháp luật có quy định", đại biểu cho rằng đây là quy định mở, việc quy định này sẽ gây khó khăn cho Tòa án khi xác định nguồn chứng cứ và xây dựng chứng cứ từ nguồn chứng cứ. Điều 95 của dự thảo luật có quy định xác định chứng cứ cũng không quy định và không hướng dẫn cách xác định chứng cứ từ các nguồn khác theo Khoản 10, Điều 94 này. Trong khi đó, Bộ luật tố tụng dân sự là Bộ luật quy định về trình tự, thủ tục, cách xác định chứng cứ, nguồn chứng cứ trong vụ việc dân sự. Đề nghị Ban soạn thảo cần có quy định cụ thể hơn đối với khoản này.
Về quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được nêu tại Khoản 2 và Khoản 4, Điều 75. Tại Khoản 2, Khoản 4, Điều 75 có sử dụng cụm từ "giấy đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự", theo đại biểu việc sử dụng thuật ngữ giấy đăng ký như dự thảo luật chưa chính xác, vì khi luật sư nộp đầy đủ các giấy tờ để đăng ký làm người bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của đương sự theo đúng quy định của pháp luật thì Tòa án phải ra văn bản xác nhận tư cách tham gia tố tụng của họ. Như vậy, Tòa án phải cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để chứng nhận việc họ đã đăng ký đầy đủ các thủ tục và được Tòa án chấp nhận là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, cần thay thế cụm từ "giấy đăng ký" thành "giấy chứng nhận" người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về ủy thác thu nhập chứng cứ được quy định tại Khoản 5, Điều 105 . Khoản 5 quy định: Trường hợp không thực hiện việc ủy thác theo quy định tải Khoản 3 và Khoản 4 của điều này thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.
Thực tế, các vụ án có yếu tố nước ngoài thì Tòa án đã làm các thủ tục ủy thác và gửi hồ sơ ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để gửi sang các quốc gia có liên quan đến vụ việc ủy thác nhưng không nhận được trả lời từ các cơ quan của các quốc gia được yêu cầu ủy thác. Như vậy, Tòa án đã thực hiện nhưng không nhận được kết quả trả lời và hiện tại Thông tư liên tịch số 15 giữa Bộ ngoại giao với Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao ngày 15/9/2011 cũng đã hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp và quy định về việc xử lý kết quả ủy thác. Đề nghị Ban soạn thảo sửa lại quy định này tại Khoản 5, Điều 105 này như sau: Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác tư pháp theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 của điều này hoặc đã thực hiện ủy thác tư pháp nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật và chứng đã có trong hồ sơ để giải quyết.
Về các phương thức cấp tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được quy định tại Khoản 1, Điều 173. Khoản 1, Điều 173 quy định: Cấp tống đạt, thông báo trực tiếp qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền việc cấp tống đạt thông báo. Đại biểu nhận thấy quy định này chưa đầy đủ, vì Khoản 1, Điều 172 quy định: Người thực hiện tống đạt có Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức người tham gia tống đạt dân sự làm việc và người có chức năng tống đạt. Vì vậy trong các phương thức cấp tống đạt tại Khoản 1, Điều 173, đề nghị Ban soạn thảo sửa thành: Cấp tống đạt thông báo trực tiếp qua dịch vụ bưu chính, tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc, người có chức năng tống đạt hoặc người thứ ba được ủy quyền việc cấp tống đạt thông báo.
Về sự có mặt của kiểm sát viên được quy định tại Điều 232. Khoản 2, Điều 232 của dự thảo bộ luật quy định: "Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa. Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa", đại biểu nhận thấy quy định này không phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Vì tại Khoản 1, Điều 107 của Hiến pháp năm 2013 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố kiểm sát hoạt động tư pháp". Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, trong hoạt động xét xử đều có sự tham gia của kiểm sát viên. Do đó, cần có sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để cơ quan này kiểm sát tất cả các hành vi tố tụng của tòa và những người tham gia tố tụng trước, trong và sau khi tòa diễn ra. Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và phiên họp. Do đó, nếu Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, phiên họp sẽ không thực hiện được tốt quyền kiểm sát của mình.
Về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định tại Điều 63. Đại biểu đề nghị bổ sung thành phần Hội thẩm nhân dân cần có đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện quyền tố tụng của tổ chức này. Vì theo Điều 9, Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Tập hợp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Về vấn đề giải thích từ ngữ và việc rút khiếu nại. Đại biểu đề nghị bổ sung vào dự thảo luật 2 điều: Một điều quy định về giải thích từ ngữ và một điều quy định về việc rút khiếu nại vì các lý do như sau:
Thứ nhất, trong Bộ luật đã có nhiều từ cần được giải thích khái niệm để có sự thống nhất trong cách hiểu và đảm bảo tính khả thi trong quá trình áp dụng pháp luật. Ví dụ, cụm từ "Vô tư" được dùng trong Điều 16, Điều 52 của dự thảo luật.
Thứ hai, để người khiếu nại có thể rút khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nên việc rút khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại. Đơn rút khiếu nại phải gửi đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khi nhận được đơn xin rút khiếu nại thì đình chỉ việc giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại việc đình chỉ giải quyết khiếu nại đó. Vì vậy, dự thảo luật cần thiết kế một điều để quy định rõ điều này.
Ngô Sỹ Khảo ( VP Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh)