Giải bài toán xử lý rác thải

Cùng với tốc độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp và du lịch, lượng chất thải phát sinh trên địa bàn Quảng Ninh ngày càng lớn, tạo áp lực không nhỏ đối với công tác bảo vệ môi trường. Trước yêu cầu phát triển bền vững, tỉnh đang từng bước hoàn thiện hạ tầng, đổi mới công nghệ và chuyển mạnh sang mô hình quản lý chất thải theo hướng giảm phát sinh, tái sử dụng, tái chế.

Năm 2025, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh hơn 390.000 tấn, 99% đã được thu gom, vận chuyển, xử lý. Đây là kết quả tích cực, song cũng cho thấy quy mô ngày càng lớn của nguồn thải cần được kiểm soát.

Để đáp ứng yêu cầu này, hạ tầng xử lý rác thải được tỉnh quan tâm đầu tư theo hướng tập trung, liên vùng. Theo quy hoạch, toàn tỉnh có 17 khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt, đến nay đã có 9 khu xử lý đi vào vận hành, 1 khu vận hành một phần, 2 khu đang đầu tư và 5 khu chưa triển khai. Ngoài ra, tỉnh vẫn duy trì 11 khu xử lý từ trước, chủ yếu là các lò đốt quy mô nhỏ phục vụ khu vực miền núi, hải đảo. Tổng công suất thiết kế của 21 khu xử lý đã đầu tư đạt khoảng 1.590 tấn/ngày, từng bước đáp ứng nhu cầu xử lý rác thải trên địa bàn.

Về phương thức xử lý, hiện nay khoảng 61% lượng rác thải sinh hoạt được xử lý bằng công nghệ đốt; phần còn lại vẫn xử lý bằng chôn lấp. Điều này cho thấy dù đã có sự chuyển dịch tích cực, song tỷ lệ chôn lấp còn cao, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và tạo áp lực lớn về quỹ đất trong dài hạn.

Công nhân Công ty CP Môi trường đô thị Cẩm Phả thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Cẩm Phả.
Công nhân Công ty CP Môi trường đô thị Cẩm Phả thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Cẩm Phả.

Không chỉ chất thải sinh hoạt, lượng chất thải công nghiệp phát sinh trên địa bàn tỉnh cũng rất lớn, ước khoảng 310 triệu tấn/năm, chủ yếu từ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến. Trong khi đó, chất thải nguy hại phát sinh khoảng 5.885 tấn/năm, đã được thu gom, xử lý đạt 100% theo quy định. Riêng lĩnh vực y tế, hơn 415 tấn chất thải nguy hại và trên 624.000m³ nước thải đã được xử lý, bảo đảm yêu cầu trước khi xả ra môi trường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh vẫn còn không ít khó khăn. Hạ tầng xử lý chưa đồng bộ, một số khu xử lý chậm triển khai; việc xã hội hóa còn hạn chế do chi phí đầu tư lớn. Ở nhiều địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, công tác thu gom, vận chuyển rác còn gặp khó khăn, chi phí cao. Một số loại chất thải đặc thù như chất thải chăn nuôi, giết mổ, bao bì hóa chất… chưa được xử lý triệt để, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm.

Dây chuyền xử lý chất thải rắn thông thường làm nguyên, nhiên liệu thay thế trong lò nung clinker tại Nhà máy Xi măng Lam Thạch (Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh).
Dây chuyền xử lý chất thải rắn thông thường làm nguyên, nhiên liệu thay thế trong lò nung clinker tại Nhà máy Xi măng Lam Thạch (Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh).

Trước thực tế đó, Quảng Ninh đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình xử lý rác thải theo hướng hiện đại, giảm dần chôn lấp, tăng tỷ lệ đốt và tái chế. Một trong những giải pháp đáng chú ý là tận dụng các nhà máy xi măng trên địa bàn để đồng xử lý chất thải. Hiện có 4 nhà máy xi măng đã được cấp phép đồng xử lý chất thải công nghiệp, với tổng khối lượng xử lý khoảng 55.000 tấn/năm. Các doanh nghiệp cũng đang đề xuất mở rộng sang xử lý chất thải sinh hoạt, góp phần giảm áp lực cho các khu xử lý tập trung.

Song song với đó, tỉnh tiếp tục hoàn thiện quy hoạch các khu xử lý chất thải, ưu tiên công nghệ hiện đại; đẩy mạnh phân loại rác tại nguồn, giảm thiểu rác thải nhựa; tăng cường kiểm soát nguồn thải thông qua hệ thống quan trắc tự động và thanh tra, kiểm tra định kỳ. Các mô hình “không rác thải nhựa” tại vịnh Hạ Long, Cô Tô đang từng bước lan tỏa, góp phần thay đổi nhận thức cộng đồng.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, các ngành chuyên môn đẩy mạnh hướng dẫn người dân vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời xử lý rơm rạ, phụ phẩm theo hướng thân thiện với môi trường. Việc áp dụng các quy trình sản xuất phân compost từ nguyên liệu hữu cơ như phân chuồng, trấu, mùn cưa, rơm rạ… kết hợp chế phẩm vi sinh không chỉ góp phần giảm phát thải khí nhà kính mà còn hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí do đốt phụ phẩm nông nghiệp.

Cùng chuyên mục