Những năm gần đây, Đông Triều đã nâng dần tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã dẫn đến hệ lụy tất yếu là sự ô nhiễm về khí thải, bụi và tiếng ồn tại một số khu dân cư từ quá trình khai thác than, sản xuất vật liệu xây dựng và vận tải trên các tuyến đường. Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy giảm chất lượng nước ở nhiều nơi, nhất là tại một số hồ thuỷ lợi chịu ảnh hưởng của khai thác than. Vệ sinh môi trường nông thôn cũng bị ảnh hưởng bởi chất thải rắn, nước thải sinh hoạt, nước thải do chăn nuôi xen cư ở một số thôn vùng đồi và đồng bằng chưa được thu gom và xử lý triệt để gây ô nhiễm mùi, ô nhiễm các dòng kênh mương nội đồng.
Nỗ lực lớn
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, Đông Triều đã triển khai thực hiện trên 15 dự án, góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc về môi trường trên địa bàn huyện với tổng số vốn trên 730 tỷ đồng. Các dự án chủ yếu đầu tư làm đường giao thông, nạo vét khắc phục ô nhiễm môi trường do nước thải từ mỏ than Mạo Khê trên suối Cầu Lim, nạo vét các hồ chứa nước, suối bị ô nhiễm như hồ Cầu Cuốn, Khe Ươn, suối Cầu Lim... Huyện cũng bắt buộc các chủ phương tiện thực hiện nghiêm các quy định về vận chuyển nguyên vật liệu trên đường bộ, trong đó nghiêm cấm các loại xe quá tải chở đất sét, vật liệu rời trên tuyến đường nội huyện; đồng thời đầu tư nâng cấp tuyến đường bộ từ Nhà sàng 56 ra cảng Bến Cân để trả lại đường dân sinh.
Cùng với đó, các đơn vị ngành Than đã thực hiện hoàn nguyên môi trường 4,86 triệu m3 đất đá, trồng 250,43ha cây xanh; đầu tư đường băng tải ống chạy qua khu dân cư để tải than thay cho vận tải bằng đường bộ từ Nhà sàng 56 ra cảng Bến Cân. Tại khu vực thị trấn Đông Triều, thị trấn Mạo Khê và một số xã lân cận dọc QL18A đã được cấp nước sạch, xã Yên Đức được UBND huyện phối hợp với Trung tâm Nước sạch và VSNT tỉnh đầu tư Trạm cấp nước xã Yên Đức để cấp nước sạch cho gần 2.000 dân trong xã.
Hiện nay, việc thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt diễn ra tại hầu hết các khu vực hai bên đường QL18A do Công ty TNHH Hải Yến thực hiện. Toàn bộ các điểm này là các điểm trung chuyển, không có điểm tập trung rác thải. Theo kết quả điều tra thực địa, hầu hết các khu vực ven QL18A đều được xe chuyên chở của Công ty tiến hành thu gom 1 lần/ngày. Một số xã khu vực nông thôn do lượng rác thải ít nên thu gom 2 đến 3 ngày/lần như Tràng Lương, Hoàng Quế, Hồng Thái Tây, Yên Đức. Kết quả cho thấy, tỷ lệ thu gom lượng rác thải sinh hoạt trên toàn huyện đạt 72% với tổng lượng rác thu gom khoảng 90 - 100 tấn/ngày. Trong đó, tại khu vực đô thị tỷ lệ thu gom đạt tới 91%, còn tại khu vực nông thôn, tỷ lệ này đạt 58%.
Trong khoảng 3 năm trở lại đây, huyện đã chi hơn 1,6 tỷ đồng mua 410 xe gom rác đẩy tay cho các xã trên địa bàn để tăng cường thu gom rác thải tại nông thôn. Đến hết năm 2012, toàn bộ 19 xã trên địa bàn đã hình thành các tổ thu gom rác thải sinh hoạt trong khu dân cư. Tuy nhiên, tại một số xã công tác tuyên truyền vận động còn khó khăn, công tác quản lý và tổ chức thực hiện còn hạn chế nên công tác thu gom rác thải tại một số xã chưa đạt hiệu quả cao.
Bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt của huyện Đông Triều tại vỉa 10 cánh Nam xã Yên Thọ có diện tích 2ha đi vào sử dụng từ tháng 7-2008 sau khi quá tải, gây ô nhiễm môi trường, huyện chỉ đạo ngừng chôn lấp rác thải tại đây. Huyện đang tiến hành khảo sát, quy hoạch xây dựng bãi rác mới đúng quy chuẩn kỹ thuật. Trong thời gian này, từ tháng 7-2011, rác thải thu gom được vận chuyển và đổ tại moong vỉa 1B, xã Hoàng Quế (khoảng 6ha) để xử lý bằng hình thức đơn giản là lấp đất, rắc vôi bột và phun chế phẩm sinh học nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường (công suất 90-100 tấn/ngày).
Khó về nguồn vốn
Tuy đã có những kết quả tích cực nhưng theo đánh giá của huyện, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn cũng còn không ít hạn chế cần khắc phục. Một số chỉ tiêu và nhiệm vụ bảo vệ môi trường đã đề ra nhưng thực hiện chưa đạt yêu cầu. Ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của một số đơn vị sản xuất kinh doanh còn chưa cao. Sự phối hợp hành động bảo vệ môi trường giữa các cấp, ngành, đoàn thể chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ, hiệu quả chưa thực sự cao. Kinh phí đầu tư cho sự nghiệp môi trường đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Thực tế cho thấy, tình hình ô nhiễm môi trường các vùng nông thôn trên địa bàn ngày càng gia tăng, trong đó đặc biệt là những phát sinh từ việc chăn nuôi “xen cư” nhưng biện pháp khắc phục chậm, hiệu quả thấp. Trong các cơ sở y tế của huyện, hiện nay mới có duy nhất Bệnh viện Đa khoa Đông Triều có lò đốt chất thải y tế đạt kỹ thuật để phục vụ nội bộ, Trung tâm Y tế Mỏ Mạo Khê hợp đồng với doanh nghiệp tỉnh ngoài để xử lý chất thải y tế nguy hại phát sinh; riêng các trung tâm y tế thị trấn, xã và phòng khám tư nhân rất khó khăn trong việc xử lý chất thải y tế nguy hại. Tại các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, vấn đề thu gom, lưu chứa chất thải nguy hại hầu như chưa được quan tâm, quản lý thoả đáng. Một số xã đã có hố thu gom và xử lý chất thải nguy hại trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên chưa có biện pháp xử lý triệt để.
Bên cạnh đó, phần lớn rác thải sinh hoạt đều mới được chôn lấp mà chưa được xử lý đúng quy trình hiện đại. Công tác thu gom, xử lý lượng rác này chưa có biện pháp phân loại rác từ nguồn thải. Cơ sở hạ tầng cho công tác thu gom rác thải còn nhiều khó khăn, như các điểm tập kết rác chưa có biện pháp xử lý mùi, tuyến thu gom dài, lượng rác thải lớn, lượng xe đẩy tay còn hạn chế…
“Tất cả các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường hiện đều nằm trong quy hoạch của địa phương, gần nhất là đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp chung, xây dựng trạm thu gom xử lý rác thải tập trung, xây dựng các khu chăn nuôi tập trung.v.v Nhưng các dự án đều đòi hỏi nguồn vốn không nhỏ, đó là khó khăn lớn nhất của huyện hiện nay” - Anh Nguyễn Chí Hoàng, Phó Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện chia sẻ.
Ngọc Mai