Hiểu biết về ung thư vú

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới, chiếm 25% trong tất cả các loại ung thư. Năm 2012 có đến 1,68 triệu trường hợp mắc ung thư vú và 522.000 trường hợp tử vong. Tỉ lệ mắc bệnh có xu hương tăng nhưng tỉ lệ tử vong do bệnh giảm ở các nước phát triển cho thấy lợi ích của việc phát hiện sớm và điều trị ngày càng hiệu quả.

(Ảnh minh họa)
(Ảnh minh họa)

Tại Việt Nam, theo thống kê giai đoạn 2001- 2004, tỉ lệ mắc ung thư ở các tỉnh phía Bắc là 19,6/100.000 dân, đứng đầu trong các ung thư ở phụ nữ phía Nam, tỷ lệ này là 16,3/100.000 dân, đứng sau ung thư cổ tử cung.

Ung thư vú là ung thư phát triển từ các mô vú. Những dấu hiệu của ung thư vú có thể bao gồm: khối u trong vú, sự thay đổi hình dạng vú, sự thay đổi màu sắc da, chất dịch từ núm vú... Những người có di căn xa của bệnh có thể có đau xương, hạch bạch huyết sưng lên, khó thở..

Các yếu tố nguy cơ phát triển ung thư vú bao gồm:

Tiền sử gia đình: Trong gia đình có mẹ, con gái, chị/em gái bị ung thư vú thì người phụ nữ có nguy cơ cao bị mắc ung thư vú. Nguy cơ này thường liên quan đến sự đột biến của 2 gen, gọi là BRCA1 và BRCA2, xét nghiệm có thể phát hiện ra các đột biến gen này. Phụ nữ có các đột biến gen BRCA1 có nguy cơ phát triển ung thư vú đặc biệt cao, nhưng chỉ có khoảng 1/1.000 phụ nữ có các đột biến gen như vậy.
 

Tuổi bắt đầu có kinh và mãn kinh: Tuổi có kinh nguyệt sớm và mãn kinh muộn được xem là yếu tố nguy cơ do có thời gian dài phơi nhiễm với estrogen (yếu tố kích thích tuyến vú phát triển). 

Có thai và cho con bú: Thời điểm có thai lần đầu cũng có vai trò quan trọng: phụ nữ có thai lần đầu tiên ở tuổi từ 30 trở lên có nguy cơ cao bị mắc ung thư vú. Những phụ nữ không bao giờ sinh con có nguy cơ ung thư vú sau mãn kinh cao hơn so với những người đã sinh con nhiều lần.

Tuổi: Phụ nữ  lớn tuổi có nguy cơ mắc ung thư vú cao, chỉ có 5% các trường hợp ung thư vú xảy ra ở độ tuổi từ 30 trở xuống, 10% xuất hiện ở phụ nữ trong độ tuổi 40 và 85% xuất hiện ở phụ nữ tuổi từ 50 trở lên.

Liệu pháp hoóc-môn thay thế (HRT): Sử dụng estrogen lâu dài đối với những phụ nữ đã mãn kinh (khoảng từ năm năm trở lên) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Béo phì:  Những phụ nữ béo phì có nguy cơ phát triển ung thư vú sau mãn kinh cao hơn phụ nữ gầy.
Uống rượu: Uống rượu làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú ở nữ giới. Một người phụ nữ uống càng nhiều rượu thì nguy cơ phát triển ung thư vú càng cao.

Bức xạ ion hóa: Phụ nữ đã được chiếu xạ vùng ngực, thường là một phần trong quá trình điều trị ung thư, bị tăng nguy cơ ung thư vú so với phụ nữ không bị chiếu xạ vùng ngực.

Bằng cách duy trì một cơ thể  khỏe mạnh, uống ít rượu, vận động thường xuyên, có con sớm và cho con bú được cho là các biện pháp có hiệu quả cao trong phòng ngừa mắc ung thư vú ở phụ nữ. Những thay đổi này có thể ngăn chặn 38% ung thư vú ở Mỹ, 42% ở Anh, 28% Brazil và 20% ở Trung Quốc. Những lợi ích khi tập thể dục vừa phải (như đi bộ nhanh), sử dụng axit béo không no omega-3, sử dụng các sản phẩm từ đậu nành .... để làm giảm nguy cơ được thấy ở tất cả các lứa tuổi kể cả phụ nữ sau mãn kinh. Các hoạt động thể chất thường xuyên và giảm béo phì cũng đem lại nhiều lợi ích khác như giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tiểu đường.

Phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên vú trước khi được chẩn đoán bị ung thư hoặc khi có bất kỳ khối u khả nghi nào có thể được xem xét ở những người có gen BRCA1 và BRCA2 đột biến (có liên quan với nguy cơ tăng cao khả năng mắc ung thư vú). Tuy nhiên, phương pháp này không được khuyến cáo thường xuyên.

Đoàn Hạnh

Cùng chuyên mục