Là địa phương có bờ biển dài 250km, 8 huyện, thị xã và thành phố có biển, Quảng Ninh có điều kiện đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, chính điều này lại đang tác động tiêu cực tới môi trường biển và khó kiểm soát nguồn gây ô nhiễm.
Những năm gần đây, tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, môi trường biển nói riêng. Bên cạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức cho cộng đồng về quản lý và bảo vệ tài nguyên biển phát triển bền vững, Quảng Ninh đã thực hiện nhiều giải pháp để giảm thiểu các tác động gây ô nhiễm môi trường. Trong số đó, đáng chú ý là việc thực hiện các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Vịnh Hạ Long, như: Di chuyển các hoạt động khai thác, sàng tuyển, bóc rót than trên Vịnh, cấm các hoạt động chuyển tải clinker, xi măng và các loại hàng hoá rời (dăm gỗ, đá các loại…) trên Vịnh. Đặc biệt là việc thực hiện di dời và quy hoạch các điểm cư dân làng chài trên Vịnh; địa điểm nuôi hải sản bằng lồng bè; kế hoạch quản lý hoạt động vận chuyển khách tham quan du lịch và tàu lưu trú du lịch; quy định tàu du lịch phải lắp đặt thiết bị xử lý nước thải la canh; tổ chức thu gom rác thải bảo vệ môi trường sinh thái trên Vịnh Hạ Long. Bên cạnh đó, để khắc phục và giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường khu vực ven bờ biển, các ngành chức năng đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp, nhất là kiểm soát các khu vực có lượng phát thải lớn. Cụ thể, đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; đẩy mạnh việc tuyên truyền bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức đến người dân và khách tham quan du lịch...
Tuy nhiên, hiện một số khu vực ven biển, hệ thống, cống rãnh thoát nước thải tại khu dân cư, nhà hàng, khách sạn… vẫn để xảy ra tình trạng ô nhiễm. Các nguồn nước thải mỏ từ khai thác hầm lò và lộ thiên cơ bản đã được thu gom và xử lý tốt, tuy nhiên các nguồn nước mặt rửa trôi bãi thải, sân công nghiệp, đường chuyên dùng, bến bãi than, vẫn chưa được thu gom và có giải pháp xử lý triệt để, khi có mưa lũ vẫn bị cuốn trôi bùn đất và các chất ô nhiễm xuống vùng nước ven biển. Đáng chú ý, các nhà máy nhiệt điện (Hà Khánh, Cẩm Phả, Mông Dương 1, Mông Dương 2) nếu hoạt động hết công suất thì mỗi ngày thải ra biển khoảng 14 triệu mét khối nước thải làm mát và nước thải công nghiệp khác. Mặc dù chỉ tiêu theo QCVN về nước thải công nghiệp vẫn đạt, nhưng do lượng thải quá lớn, nên ảnh hưởng đến môi trường nước biển ven bờ (nhiệt độ, COD, Clorua). Đặc biệt, các khu đô thị hầu hết chưa được đầu tư xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung. TP Hạ Long hiện có 5 trạm xử lý nước thải tập trung, nhưng hiệu quả rất kém. Có thể kể đến Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy luôn quá tải (dù chạy hết công suất nhưng hiện chỉ xử lý khoảng 30% lượng nước thải phát sinh). Các trạm xử lý nước thải phía Đông Hạ Long, hệ thống thu gom cũng trong tình trạng tương tự, lượng lớn nước thải không thu gom được về trạm xử lý mà xả thẳng ra biển (Trạm xử lý nước thải Hà Khánh công suất 7.000m3/ngày đêm, mới đạt khoảng 70%, Trạm xử lý nước thải khu đô thị Cột 5 - Cột 8 mới đạt 5-10% công suất). Nhiều khu đô thị và dịch vụ quy mô lớn, mới đầu tư, thuộc đối tượng bắt buộc phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng chủ đầu tư chưa xây dựng, như: Công ty Âu Lạc - Tuần Châu, khu đô thị Hùng Thắng - BIM... Bên cạnh đó, Quảng Ninh là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế rất cao nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc, các nguồn thải công nghiệp ở đây là rất lớn. Khu vực này hiện đã có rất nhiều khu công nghiệp ven biển, như Cái Lân, Hải Yên, Việt Hưng, Texhong Hải Hà… Nguồn nước thải công nghiệp chủ yếu phát sinh từ ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất sợi… đây cũng là những nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nếu không được quan tâm xử lý theo quy định.
Những năm gần đây, diễn biến thời tiết phức tạp nắng nóng kéo dài, mưa lũ cũng nhiều hơn, đặc biệt mỗi lần mưa lớn không chỉ gây ngập lụt cục bộ tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh, mà còn kéo theo hiện tượng rửa trôi đất đá, bùn đất ra biển, gây ô nhiễm môi trường biển. Theo kết quả quan trắc của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, trong đợt mưa lụt cuối tháng 7, đầu tháng 8-2015, thông số độ mặn tại các khu vực chịu tác động của mưa lũ giảm mạnh từ 40-60%, gây ảnh hưởng lớn đến các loài thuỷ sinh của khu vực, độ PH giảm mạnh so với kết quả trung bình của khu vực đo được cùng thời điểm năm 2014. Một số điểm đã giảm dưới mức giới hạn cho phép. Đợt mưa lớn năm 2015 đã làm giảm nồng độ mặn, kèm theo bùn đất làm thay đổi môi trường sống đột ngột, làm nhuyễn thể tại các bè, bãi nuôi trồng thuỷ sản ở Vân Đồn bị chết hàng loạt, ước tổng thiệt hại khoảng 30 tỷ đồng. Đặc biệt là các khu vực chịu sự tác động của rửa trôi trên bờ, như khu vực Bãi Cháy, Cột 3, hoạt động khai thác và kinh doanh than Cảng Nam Cầu Trắng, ven bờ khu vực Bái Tử Long. Đáng bàn là nhóm kim loại nặng tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2014, đặc biệt là các thông số Fe, Mn đều vượt giới hạn cho phép ở tất cả các điểm đo.
Từ những số liệu trên cho thấy, ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ đã và đang bị ô nhiễm từ nhiều nguồn thải, tác động mạnh đến đời sống của con người và để lại những bài học nhãn tiền. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, kinh tế biển là mũi nhọn, thì công tác bảo vệ môi trường biển cần ở một tầm nhìn mới, vì đầu tư cho môi trường chính là đầu tư cho tương lai.
Trang Thu