Một đại gia đình 5 đời làm mỏ

Bà Phạm Thị Mai, sinh năm 1930, hiện đang sống tại tổ 3, khu 2B, phường Cẩm Thành, TX Cẩm Phả. Bà kể, bà được sinh ra ở lán thợ Núi Con, Cẩm Phả. Bố, mẹ bà, làm than. Bà còn được nghe bố kể, ông bà nội của bà, người Nam Định, cũng làm than. Như thế, nếu tính ngược lại, ông bà nội bà đã có mặt làm phu mỏ ít nhất phải từ những năm đầu của thế kỷ XX thời Pháp thuộc; khi Công ty Than Bắc Kỳ thuộc Pháp (SFCT) ra đời cuối thế kỷ XIX (năm 1888), khai thác than vùng Cẩm Phả, Hòn Gai.

Bố mẹ bà sinh được 6 người con. Bà là con cả, duy nhất là gái, sau bà có 5 em trai. Lúc nhỏ, bố mẹ đi làm than, chị em bà đi lấy bông chít và sâu chít về để đổi lấy khoai ăn. “Bông chít thì đổi công khai. Sâu chít phải đổi dấm dúi, cho bọn con nhà bán gạo, khoai. Chúng nó lấy trộm khoai đổi cho mình” - Bà nói. “Chúng lấy sâu chít làm gì?”. “Nướng ăn. Ngon lắm. Nhưng mình thì không nướng, phải gom lại, đổi lấy khoai...”.

14 tuổi, bà Mai cùng hai người em kế tiếp (ông Tâm, ông Minh) được bố cho đi làm. Làm ở tầng Trục 27, Đèo Nai. Bố xúc đất đá, hoặc than lên goòng, còn 3 chị em đẩy. “Cậu Minh, còn bé, cái khung xe goòng có tăm bông cao gần tới cằm; đứng giữa, bám vào đó đẩy, còn hai anh chị đẩy hai bên”. “Mệt lắm. Bố lại hay nhận xúc ở đầu tầng, cho gần, song phải xúc nhanh để đẩy đi, lấy chỗ cho các xe goòng của những người khác phía trong đẩy ra. Phải giúp thêm bố xúc. Thời gian đầu còn hăng hái, làm cố được 3 goòng, sau chỉ làm được 2, là kịch”. “Làm từ bao giờ đến bao giờ, hả bà?”. “5 giờ sáng đi, 2, 3 giờ chiều thì về”. “Ăn uống thế nào?”. “Có gì ăn nấy. Khoai, sắn, ngô xay. Gạo ít lắm. Chán mớ đời. Cái đáng nhớ thì không nhớ, cái không đáng nhớ lại chả quên được. Có lần bố tôi bảo mẹ tôi nhai (dưa bắp cải muối, lá già) khe khẽ thôi, kẻo con nó nghe thấy”.

6 người con đều làm mỏ. Trong đó, ông Tâm, lái xe gạt mỏ Đèo Nai, đã bị Pháp bắt. Ông tham gia hoạt động cách mạng, lúc ấy còn nhỏ. Đã bị đưa về giam ở Hòn Gai. Mẹ khóc mờ cả mắt. Sau không tìm được bằng cớ, lại nhờ người quen giúp, ông được thả. “Cậu ấy mất rồi. Cũng khổ. Hoạt động, nhưng giấy tờ chẳng còn, thành thử cũng chẳng được hưởng gì”. Một người khác, ông Diện, làm lái xe ở Hà Tu, hát hay, được phong nghệ sĩ Vùng mỏ, thuộc vào những thế hệ đầu tiên khi tỉnh Quảng Ninh có danh hiệu này. Ông Tiến, thợ khoan mỏ Đèo Nai, bị bom Mỹ, chết khi đang chuẩn bị đi làm ca 2...

Bà Phạm Thị Mai và cô con gái áp út (chị Bình).
Bà Phạm Thị Mai và cô con gái áp út (chị Bình).

Lại kể tiếp về bà Mai. Một lần bố bà dắt díu các con đi chợ (chợ Cũ, Cẩm Phả), gặp một chàng thanh niên. Anh đang làm nghề chèo thuyền thuê chở chuối cho những nhà buôn bỏ mối ở chợ. Anh ngỏ ý muốn đi làm than, vì chán và sợ nghề sông nước. Bố bà đã nhận giúp anh, nhận anh về tổ cùng làm. Anh tên là Ngô Văn Tiên, sinh năm 1925. Bà biết anh Tiên từ đó, lúc 13-14 tuổi. Năm bà 18 tuổi, bố bảo lấy chồng, lại bảo, thấy thằng Tiên hiền lành, làm việc chăm chỉ, lấy nó. Ông Tiên đã trở thành chồng bà.

“Đám cưới nhà gái làm. Vì ông Tiên cũng hoàn cảnh khổ lắm. Ông ấy thì không nói, nhưng tôi nghe được - Bà Mai kể - Bố ông Tiên đang làm thợ ở cầu poóc tích cảng Cửa Ông, bị chết đột ngột, lúc ông mới 9 tuổi. Mẹ về quê bảo sắp xếp công việc sau ra đón ông và một người em nữa. Song không thấy ra. Hai anh em ông trở thành bơ vơ. Rồi ly tán. Mãi đến khi mất (2007), ông Tiên vẫn bặt tin tức người em. Mộ bố ông chôn ở Cửa Ông bị bom Mỹ quật cũng mất nốt. Ông ấy sống lang thang, rồi đi ở với người Sán Dìu ngoài Cẩm Phả huyện (nay là huyện Vân Đồn), rồi đi chèo thuyền thuê...”.

Ông Trời không cho ai không, cũng không lấy hết của ai. Về ở với nhau, ông bà Tiên - Mai sinh được 8 người con. 1 anh đi bộ đội năm 1972 (anh Lý), hy sinh năm 1974, mãi gần đây, nhờ các nhà ngoại cảm, đã tìm thấy mộ. “Từ khi biết con đi “cống hiến” hy sinh, tôi cứ khóc, ít ngủ, sinh ra chứng mất ngủ; mãi nay mới tìm thấy mộ con, được chôn cất ở nghĩa trang huyện Cái Bè (TP Hồ Chí Minh)”. Còn 7 người, chỉ có chị cả làm ngành ngân hàng, 6 người còn lại đều là thợ mỏ.

Ông Tiên là người đặc biệt. Tuy không được học hành, song ông rất giỏi về nghề điện, có thể quấn mô tơ, làm quạt điện, đọc được các bản vẽ thiết kế về điện. Ông là thợ lành nghề. Ông đã nhiều năm làm tổ trưởng tổ điện mỏ Đèo Nai và nhiều năm liên tục là công nhân ưu tú. Nổi tiếng đến mức, ông có lẽ là người duy nhất được Giám đốc mỏ Đèo Nai (ông Nhiên), nhường nhà mỏ xây cho giám đốc cho ông. “Vì ông ấy có nhiều đóng góp cho mỏ. Lại đông con” - Bà Mai nhớ lại ông Nhiên đã nói thế. Nhà bà Mai ở tổ 3, khu 2B, Cẩm Thành hiện nay chính là nhà ông Nhiên nhường cho ông Tiên (nay đã được xây mới lại), gần nhà ông Bổn, một giám đốc khác trong ngành Than, được cấp. Chị Bình, người con áp út của ông bà, nối nghiệp bố, nay cũng là tổ trưởng tổ điện mỏ Đèo Nai, cho biết, chị rất yêu bố và có nhiều ảnh hưởng từ bố. Chị có rất nhiều giải thưởng về hoạt động công đoàn, hoạt động nữ công; thi kể chuyện về Bác Hồ, chị giành giải nhất. Chị bảo, nhất thi kể chuyện về Bác, là nhờ chị đã được nghe nhiều câu chuyện về bố chị, từ bố chị và học hỏi nhiều điều từ bố, lấy đó làm phần liên hệ. Chị bảo, có khả năng cuối năm nay, đợt phong nghệ sĩ Vùng mỏ, chị sẽ giành được danh hiệu này, vì đã nghe phong thanh.

Gia đình chị Bình hai vợ chồng đều là thợ mỏ. Anh chị có 2 cháu gái, cháu út đang học đại học, cháu đầu đã là thợ mỏ. Gia đình chị Huệ (thứ hai), hai vợ chồng đều là thợ mỏ. 3 con gái, hai làm thợ mỏ, một làm ngân hàng. Hai làm thợ mỏ, có gia đình riêng, các anh chồng cũng là thợ mỏ. Anh Lý (thứ ba), trước khi đi bộ đội là thợ mỏ. Gia đình anh Long (thứ tư), vợ chồng đều là thợ mỏ. Gia đình chị Hồng (thứ năm), vợ chồng đều là thợ mỏ. 2 con, một đứa đã là thợ mỏ, đứa kia đang học. Gia đình chị Bích (thứ sáu), vợ chồng là thợ mỏ (chồng đã mất, anh là Nghệ sĩ Vùng mỏ). 3 con, con út đang hành nghề du lịch, còn hai đã có gia đình riêng, vợ chồng đều làm mỏ. Và gia đình chị Hằng (con út), vợ chồng cũng đều là thợ mỏ.

“Nhà em, làm cỗ, nguyên dành cho thợ mỏ phải năm mâm, ngồi sáu. Hầu hết làm ở mỏ Đèo Nai. Nếu tính cả dâu, rể, nội, ngoại, tức cả đại gia đình, thì đông đấy, phải hơn trăm người làm mỏ” - chị Bình nhẩm tính.

Lại bảo, chỉ có một gia đình sống ở xa, trong Nam, còn tất cả đều quây quần gần nhau, xa nhất là Hạ Long, rồi đến Cửa Ông, nhiều nhất là Cẩm Phả, ở tổ 3, khu 2B, phường Cẩm Thành. Lại bảo, thời bố mẹ, ông bà nghèo khó hơn. Nay con cháu đỡ hơn. Ai xây dựng gia đình đều đã làm được nhà riêng. Dù không to, song cũng khang trang. “Cái chính là chăm chỉ làm việc. Cứ hiền lành, chất phác mà sống, mà làm việc chăm chỉ. Thợ mỏ mà! Phải không anh?”.

Tôi đồng tình.

Trước khi gọi điện cho chị Thuỷ ở mỏ Đèo Nai - đang làm công tác văn thể kế nhiệm cho người bạn vong niên đã quá cố của tôi, có cái tên khá đặc biệt, hiếm gặp trong tên gọi người Việt: Anh Min; mine, tiếng Pháp, tiếng Anh có một trong các nghĩa là “mỏ”, khá quen thuộc với người Quảng Ninh - tôi có gọi điện đi vài mỏ khác, để hỏi xem ở đó có các gia đình 4, 5 đời làm thợ mỏ không; thì họ bảo phổ biến là 3 đời; thì may gọi đến chị Thuỷ, chị bảo Đèo Nai có. Lại bảo, để chọn lựa xem đến gia đình nào. Tôi rất mừng và đồ rằng, ở Đèo Nai gia đình 4 đời làm thợ mỏ chắc không chỉ có một gia đình, phải có nhiều hơn. Cuối cùng, nhờ qua văn phòng và Công đoàn mỏ Đèo Nai chọn lựa, chị Thuỷ đã giúp tôi gặp gỡ gia đình bà Mai, không phải 4 đời, mà mừng hơn, tới 5 đời làm mỏ.

Viết đến đây tôi chợt nghĩ, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) chắc phải đặt ra một danh hiệu hay phần thưởng nào đó để dành tặng cho những gia đình đã nhiều đời làm mỏ, nhiều người là thợ mỏ, như gia đình bà Mai đã viết ở bài viết này. Nếu có thiện ý ấy, nên làm sớm, khi những người thợ mỏ của thế hệ xưa, như bà Mai, ngày càng hiếm gặp...

Trần Giang Nam

Cùng chuyên mục