Những năm qua, phường Hà Lầm luôn được đánh giá là một trong những địa phương đi đầu ở TP Hạ Long về việc thực hiện tốt công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ). Có được điều này một phần là sự đóng góp nhiệt tình, không mệt mỏi của đội ngũ cộng tác viên (CTV) dân số gắn bó lâu năm tại nơi đây.
Khi thành phố bắt đầu lên đèn, tôi theo chân cô Phạm Thị Ngần, 64 tuổi, khu 3, phường Hà Lầm đến nhà một số hộ gia đình trong khu để tư vấn DS-KHHGĐ. Đáng ra lúc này, như bao người phụ nữ khác, cô còn ở nhà cơm nước cho gia đình. Thế nhưng niềm hăng say với công việc đã khiến cô gác chuyện gia đình sang một bên. Cô nói: “Ban ngày mọi người đi làm hết, muốn gặp họ phải tranh thủ buổi tối họ đi làm về rồi mới tư vấn được. Mặc dù năm nay toàn phường nói chung, khu nói riêng không có trường hợp sinh con thứ ba nào, song chúng tôi vẫn luôn theo sát từng gia đình, đặc biệt là những gia đình sinh con một bề. Nhờ đó chúng tôi sẽ nắm bắt được tình hình cụ thể từng gia đình để có biện pháp vận động kịp thời”. Hơn 15 năm gắn bó với nghề, cô đã truyền tâm huyết của mình tới biết bao hộ gia đình bằng mọi biện pháp. Cô kể: Khi cô tiếp nhận làm cộng tác viên DS-KHHGĐ ở khu phố (vào năm 1996), số hộ dân của khu chỉ có 378 hộ, nhưng đến nay số hộ dân đã lên tới 607 hộ. Càng ngày, hộ gia đình càng nhiều nên việc vận động đến từng hộ gia đình là cực kì khó khăn. Vào những đợt chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản, cô Ngần phải mất rất nhiều thời gian để tìm hiểu nắm bắt lịch đi làm ca của phụ nữ để đến vận động, cấp phát tờ rơi... Cô chia sẻ: “Dù có những lúc cảm thấy rất mệt nhọc nhưng khi tôi vận động được một trường hợp sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại hay tuyên truyền cho một cặp vợ chồng nào đó từ bỏ ý định sinh con thứ 3 là mọi mệt mỏi đều tiêu tan hết”.
Một điển hình nữa về tấm gương cộng tác viên DS-KHHGĐ nơi đây là cô Phạm Thị Minh quản lý khu 5, phường Hà Lầm với 611 hộ gia đình, 2.077 nhân khẩu. Trong nhiều năm liền, khu phố cô quản lý không có trường hợp sinh con thứ 3 nào, thêm vào đó tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai giảm đi trông thấy. Gắn bó với nghề đã 16 năm, cô không thể nhớ hết mình đã vận động được bao gia đình, tuyên truyền cho bao nhiêu cặp vợ chồng thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Biết bao khó khăn mà cô không thể kể hết bằng lời. Một số gia đình không coi trọng công tác này, nên họ từ chối nói chuyện. Rồi có những gia đình cô phải đến nhiều lần họ mới tiếp chuyện. Tranh thủ những lúc rảnh rỗi là cô lại tìm đến các hộ gia đình trong độ tuổi sinh đẻ, nhất là các hộ gia đình sinh con một bề, đông con, cuộc sống còn nhiều khó khăn để tuyên truyền, vận động. Những năm đầu làm công tác dân số, cô gặp rất nhiều khó khăn, những tư tưởng lạc hậu như “Trọng nam khinh nữ”, “Sinh con trai để nối dõi tông đường” lúc đó còn rất nặng nề ở nhiều hộ gia đình. Cô bảo: “Công việc vất vả là vậy nhưng trợ cấp của CTV dân số rất ít ỏi. Trước đây chỉ được 15.000-20.000 đồng/ tháng, nay được 50.000 đồng. Nói thật, số tiền này còn không đủ mua rau cho gia đình trong thời buổi đắt đỏ”. Đây không phải là nỗi niềm riêng của cô Minh mà là của rất nhiều CTV khác. Có lẽ, phải thật sự tâm huyết với nghề thì họ mới “vác tù và hàng tổng” đến tận hôm nay.
Có thể thấy rằng nỗi niềm mà những CTV gắn bó lâu năm với dân số ít ai có thể thấu hiểu được. Hàng ngày họ vẫn đến từng hộ gia đình, đi từng ngõ xóm tuyên truyền, vận động chính sách DS-KHHGĐ. Để công tác này được hiệu quả hơn, thiết nghĩ cần có chính sách đãi ngộ hợp lý hơn với những CTV dân số. Đó là việc làm cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc duy trì, phát huy những thành quả của công tác DS-KHHGĐ trong thời gian tới.
Lan Anh