"Bài học thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh vẫn còn nguyên giá trị cho hôm nay..."

(Ông Nguyễn Thanh Sỹ, chuyên gia nghiên cứu lịch sử công nhân mỏ, nguyên Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ninh, trao đổi với PV Báo Quảng Ninh)

Ông Nguyễn Thanh Sỹ là tác giả cuốn sách “Lịch sử công nhân mỏ” (gồm 2 tập, dày gần 1.000 trang; tập 1 xuất bản năm 1974, tập hai xuất bản năm 1984). Đây là công trình nghiên cứu được đánh giá là có tính hệ thống, đầy đủ, toàn diện và quy mô nhất về phong trào công nhân mỏ ở Quảng Ninh vào thời điểm lúc bấy giờ. Trò chuyện với chúng  tôi, ông kể:

+ Năm 1964, sau khi tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi về Quảng Ninh công tác tại Sở Văn hoá (nay là Sở VH,TT&DL) và chỉ sau một thời gian ngắn làm quen với công việc, tôi bắt tay vào tìm hiểu, nghiên cứu để viết tập một cuốn “Lịch sử công nhân mỏ”. Đây là những năm tháng rất khó khăn, đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Tuy nhiên tôi vẫn không sao nhãng công việc của mình và sau mười năm lăn lộn đi thực tế, tổng hợp tư liệu v.v.. cuối cùng, đến năm 1974, cuốn sách cũng đã được xuất bản. Sau đó, tôi tiếp tục viết tập hai, đến năm 1984 thì xong. Tôi dự định sẽ tiếp tục viết tập ba để hoàn thành công trình nghiên cứu về lịch sử công nhân mỏ suốt chặng đường phát triển từ khi ra đời cho đến những năm đầu đổi mới đất nước. Thế nhưng, tiếc là vì nhiều lý do, mà chủ yếu là do vướng bận vào công tác quản lý, nên đã không thể thực hiện được…

- Trong lịch sử hình thành và phát triển của công nhân mỏ có rất nhiều dấu mốc quan trọng; trong đó chắc chắn Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 năm 1945 ở Vùng mỏ chính là dấu mốc đặc biệt nhất. Trên cơ sở những nghiên cứu trước đây của mình, ông có thể cho biết những nét khái quát, mang tính đặc thù của Cách mạng Tháng Tám ở Vùng mỏ Quảng Ninh được không?  

+ Nói đến phong trào công nhân, nhất là công nhân mỏ, không thể không gắn với phong trào giải phóng dân tộc. Đặc biệt là từ khi có Đảng thì công nhân chính là lực lượng trụ cột, nòng cốt trong phong trào giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, khi đánh giá vai trò của lực lượng công nhân mỏ trong công cuộc giành chính quyền về tay cách mạng năm 1945 ở Quảng Ninh thì cần có sự nhìn nhận thật toàn diện, khách quan. Chúng ta đều biết, phong trào công nhân mỏ lên đến đỉnh cao là vào năm 1936 với cuộc Tổng bãi công của hơn hai vạn thợ mỏ. Sau đó, phong trào đã tạm lắng xuống do bị đàn áp… Đời sống người thợ rất khổ sở, phần lớn phụ thuộc vào “hậu phương” là nông thôn. Mặt khác, vào thời điểm tiền khởi nghĩa, khi mà Nhật đã hất cẳng Pháp, chủ trương của Mặt trận Việt Minh là đấu tranh chống phát xít Nhật, giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Trong bối cảnh trong nước và thế giới lúc đó, với vị trí chiến lược nối liền vùng Đồng bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội với Khu mỏ, Đệ tứ Chiến khu đã được thành lập ở Đông Triều nhằm chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền tại các địa bàn vùng Đông Bắc Tổ quốc. Mặt khác, vùng đất Quảng Ninh lúc bấy giờ, ngoài các tỉnh đồng bằng và Khu mỏ, còn có tỉnh Hải Ninh là một vùng biên giới, miền núi với nhiều nét khác biệt về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… Cho nên việc giành chính quyền cũng mang nhiều nét khác biệt, mỗi nơi, mỗi địa phương có những cách thức riêng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Nếu ở khu vực miền Tây, với thế và lực của Chiến khu Đông Triều, ta dùng lực lượng vũ trang làm mũi nhọn, kết hợp với lực lượng hậu thuẫn là đội ngũ thợ mỏ (chủ yếu ở Mạo Khê) và dùng phương pháp binh vận, lôi kéo làm tan rã hàng ngũ địch để chớp thời cơ giành chính quyền ở tỉnh lỵ Quảng Yên, sau đó mở rộng ra Uông Bí, Chí Linh v.v.. thì ở Hồng Gai, Cẩm Phả, việc giành chính quyền chủ yếu bằng đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, lấy uy thế chính trị trong quần chúng nhân dân và thợ mỏ để loại bỏ các thế lực phản động như Việt quốc, Việt cách; từ đó mà giành chính quyền về tay mình. Còn ở khu vực miền Đông thì lại phối hợp nhuần nhuyễn giữa quân sự, chính trị và ngoại giao để giành chính quyền khỏi tay quân Tưởng và những kẻ thân với chúng… Nói tóm lại, Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh diễn ra rất phong phú, nó thể hiện tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận Việt Minh trong việc giành chính quyền và cả trong việc giữ chính quyền non trẻ những năm tháng sau đó nữa…

Giành chính quyền ở Hòn Gai (tranh sơn dầu, tư liệu của Bảo tàng Quảng Ninh). Ảnh: Phạm Học
Giành chính quyền ở Hòn Gai (tranh sơn dầu, tư liệu của Bảo tàng Quảng Ninh). Ảnh: Phạm Học

- Nếu nhìn lại thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ninh, theo ông có thể rút ra những bài học sâu sắc như thế nào?

+ Thực ra, đây là vấn đề đã được các nhà viết sử (cả ở Trung ương cũng như địa phương) phân tích khá nhiều rồi, tôi khó mà đưa ra được một nhận định gì mới mẻ hơn! Nhưng anh đã hỏi thì tôi cũng xin nêu một số nhận xét của mình. Trước hết, đó là bài học về tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong việc tổ chức đấu tranh giành chính quyền. Như nói ở trên, với đặc thù của mỗi địa phương, cái cách tiến hành Tổng khởi nghĩa diễn ra theo một hình thức riêng, phù hợp điều kiện cụ thể, mà mục tiêu cuối cùng là nhằm phát huy hết sức mạnh tiềm năng để đạt kết quả tốt nhất. Thứ hai, đó là phải biết chớp thời cơ, tận dụng tối đa thời cơ thuận lợi để giành thắng lợi. Và thứ ba là phải biết dựa vào lực lượng quần chúng, nhất là đội ngũ thợ mỏ, phát huy tinh thần “Kỷ luật - Đồng tâm” của thợ mỏ và các tầng lớp nhân dân lao động thành sức mạnh tạo nên khối đoàn kết thống nhất trên mặt trận đấu tranh cách mạng… Đó là những bài học làm nên thành công của cách mạng trong cuộc Tổng khởi nghĩa ở Quảng Ninh.

- Liên hệ với thực tiễn, ông thấy những bài học của Cách mạng Tháng Tám năm xưa có ý nghĩa như thế nào trong công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Ninh hôm nay?    

+ Tôi đã nghỉ hưu nhiều năm nay rồi nên có thể có nhiều mặt không bám sát tình hình chung về kinh tế, chính trị, xã hội v.v.. của tỉnh. Nhưng qua thông tin đại chúng, tôi biết Quảng Ninh đang huy động mọi nguồn lực để phát triển, sớm trở thành một tỉnh công nghiệp - dịch vụ giàu mạnh, văn minh và hiện đại. Trên tinh thần đó, tôi nghĩ những bài học về Cách mạng Tháng Tám đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đó là bài học về tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong phương pháp tổ chức thực hiện nhằm phát huy triệt để sức mạnh vốn có; là bài học về công tác vận động, tập hợp quần chúng, phát huy sức mạnh quần chúng sao cho phù hợp thực tiễn, tạo nên sự đồng thuận nhất trí cao vì một mục tiêu chung v.v.. Đồng thời, đó còn là bài học về sự kế thừa truyền thống “Kỷ luật - Đồng tâm” của giai cấp công nhân mỏ, chính cái này cũng tạo nên nét đặc trưng của Quảng Ninh trong suốt chiều dài lịch sử trước, trong và sau Cách mạng Tháng Tám cho đến ngày hôm nay…

- Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Trung Luận (thực hiện)

Cùng chuyên mục