Chỉ thị số 25-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ

Về việc triển khai thực hiện Kết luận 64-KL/TW ngày 28-5-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI và Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 5-12-2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về nội dung “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế”

Thực hiện Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-5-2013 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng Khoá XI “về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”; Kế hoạch số 12-KH/TW ngày 18-9-2013 của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết T.Ư 7, khoá XI và Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 5-12-2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về nội dung “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy biên chế”; Ban Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các cấp uỷ, chính quyền các cấp ban cán sự Đảng, đảng đoàn, cấp uỷ các sở, ban, ngành, MTTQ, các đoàn thể thuộc tỉnh tập trung lãnh  đạo, chỉ đạo thực hiện tốt  các nội dung sau đây:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

1. Bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với nhà nước, MTTQ, tổ chức chính trị xã hội. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong thời kỳ mới.

2. Đổi mới hoàn thiện hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả, khắc phục tình trạng cồng kềnh, trùng chéo, nhiều tầng nấc trung gian phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm.

3. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế trong cả hệ thống chính trị cần thực hiện mạnh mẽ với quyết tâm chính trị cao; không cầu toàn, không chờ đợi; các cấp, ngành, các địa phương tiến hành rà soát, sắp xếp, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn…

Về tổ chức bộ máy không nhất thiết Trung ương, tỉnh có tổ chức nào thì các ngành, các cấp, các địa phương có tổ chức đó. Những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã có chủ trương, đã đủ rõ thì kiên quyết thực hiện. Những chủ trương, những vấn đề đã và đang thực hiện nhưng thực tiễn khẳng định là không phù hợp thì điều chỉnh, sửa đổi ngay. Những vấn đề chưa đủ rõ thì tiếp tục nghiên cứu, làm thí điểm.

4. Yêu cầu sắp xếp lại là phải tinh giản tối đa tổ chức bộ máy, biên chế gắn với cơ cấu lại, sáp nhập thu gọn, nhất thể hoá, chuẩn hoá với số lượng hợp lý; giảm chi phí hoạt động, song vẫn phải đảm bảo vận hành hiệu quả, hiệu lực của tổ chức bộ máy trong cả hệ thống chính trị.

5. Tăng cường cơ chế phân cấp, mở rộng cơ chế tự chủ, quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tự chịu trách nhiệm về sử dụng tổ chức, bộ máy, kinh phí hoạt động.

6. Việc rà soát sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế được tiến hành đồng thời với việc rà soát, đánh giá, bổ sung các quy hoạch, xây dựng phương án nhân sự để chuẩn bị cho việc thực hiện công tác nhân sự Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020.

II- NỘI DUNG:

Cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ban cán sự Đảng, đảng đoàn, các sở, ban, ngành, MTTQ, các đoàn thể thuộc tỉnh chủ động triển khai ngay việc xây dựng và tổ chức thực hiện đề án về “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế”. Đề án phải đánh giá được hiệu quả khi tổ chức thực hiện (số lượng tổ chức và biên chế được tinh giản; đánh giá mức tiết kiệm cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị và kinh phí hoạt động…) với các định hướng sau:

1. Đánh giá thực trạng về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế và hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình: (i1) - Thực trạng về cơ cấu tổ chức, bộ máy hiện nay, tình hình thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Đánh giá nội dung đã thực hiện tốt, chưa tốt, phù hợp, chưa phù hợp; nội dung còn vướng mắc, trùng chéo; nội dung còn thiếu các cơ chế, chính sách, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm trong phối, kết hợp...; (i2)- Thực trạng về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, hợp đồng, cán bộ không chuyên trách, cán bộ hợp đồng theo quỹ lương (nếu có)... cả về số lượng, chất lượng theo trình độ đào tạo khả năng đáp ứng yêu cầu công việc, mức độ hoàn thành công việc, quỹ thời gian đáp ứng công việc của địa phương, đơn vị theo từng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm; (i3)- Thực trạng, cách thức sử dụng về cơ sở vật chất (quỹ đất, trụ sở, phương tiện, trang thiết bị, điều kiện làm việc) và kinh phí được giao; (i4)- Phân tích làm rõ tồn tại, hạn chế, yếu kém; những chức năng, nhiệm vụ còn trùng chéo; những tổ chức còn trùng lặp, không cần thiết, những bộ phận cần phải tinh giản, nguyên nhân.

2. Đề xuất phương án sắp xếp tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, chiến lược, định hướng phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ của từng lĩnh vực, ngành, địa phương, đơn vị từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; (i1)- Đề xuất điều chỉnh, bổ sung quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức bộ máy; (i2)- Đề xuất nhiệm vụ và quyền hạn của từng chức danh, vị trí việc làm; tổng số biên chế cần sử dụng; số lượng vị trí việc làm có thể dôi dư hoặc còn thiếu theo tiêu chuẩn vị trí chức danh do có sự biến động từ nay đến 2016 cần phải cắt giảm hoặc bổ sung; số cán bộ, công chức, viên chức sự nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cần sắp xếp, tinh giản, đào tạo, luân chuyển số lao động hợp đồng theo biên chế hoặc đang chờ thi tuyển, định hướng sử dụng; (i3-  Phương án sắp xếp lại tổ chức, bộ máy, biên chế (sắp xếp các phòng, ban, đơn vị trực thuộc…) và lộ trình, giải pháp thực hiện; (i4)- Đề xuất cơ chế, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức phải cơ cấu lại, sắp xếp lại, phải nghỉ việc,  chuyển việc, đi đào tạo; (i5)- Đề xuất phương án tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao hơn về tài chính, bộ máy, biên chế hoặc phương án xã hội hoá đơn vị sự nghiệp trực thuộc; đề xuất phương án, định mức kinh phí giao và việc sử dụng cơ sở vật chất, kinh phí được giao (theo hướng khoán kinh phí); (i6)- Quy định chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của các hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và tuân thủ pháp luật.

3. Đối với các huyện, thị, thành uỷ trực thuộc tỉnh, đề án của các cấp cần tập trung xử lý các vấn đề: (i1)- Ngoài việc rà soát bộ máy biên chế, sắp xếp tinh giản đội ngũ cán bộ, công chức (bao gồm cả khối Đảng, đoàn thể và chính quyền), viên chức và kinh phí được giao, cần tập trung làm rõ số lượng, hiệu quả, giải pháp thực hiện tinh giản đội ngũ cán bộ không chuyên trách cấp xã, phường, cán bộ không chuyên trách tại các thôn, bản, khu phố; (i2)- Tiếp tục sắp xếp lựa chọn nhất thể hoá một số chức danh trực thuộc (bí thư Đảng bộ kiêm chủ tịch HĐND hoặc UBND cấp xã; bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, bản, khu phố…), đề xuất quy trình tuyển chọn cán bộ và giới thiệu cán bộ để thực hiện mở rộng dân chủ, bầu cử trực tiếp chức danh người đứng đầu cấp uỷ chính quyền một số địa phương, đơn vị trực thuộc; (i3)- Đề xuất thực hiện thí điểm nhất thể hoá một số cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ với cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp có cùng chức năng theo hướng “một nhà hai cửa” (uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ với thanh tra nhà nước; ban tổ chức của cấp uỷ và phòng nội vụ, ban tuyên giáo và phòng văn hoá - thông tin; văn phòng cấp uỷ với văn phòng UBND và HĐND...:); (i4).  Ở những nơi có điều kiện, cần mạnh dạn nghiên cứu đề xuất thí điểm sáp nhập thành lập một cơ quan tham mưu giúp việc của MTTQ và các đoàn thể; ở một số địa bàn khó khăn, đặc thù, đề xuất việc sắp xếp lại các cơ sở giáo dục khối trung học cơ sở, tiểu học, hệ thống mẫu giáo, nhà trẻ sao cho phù hợp để tiết kiệm cơ sở vật chất, đảm bảo hiệu quả giáo dục, sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên, bảo đảm các điều kiện chăm sóc, bảo vệ học sinh; (i5)- Quy định dưới xã, phường, thị trấn là thôn, tổ dân phố và tương đương (có quy mô phù hợp với địa bàn đô thị, nông thôn, miền núi) chủ yếu hoạt động theo hình thức tự quản của cộng đồng dân cư, hạn chế tối đa việc sử dụng kinh phí từ ngân sách. Thực hiện khoán kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, thôn, tổ dân phố và tương đương; (i6)- Nghiên cứu đề xuất các sáng kiến cụ thể từ thực tiễn công tác tại địa phương, đơn vị về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế.

III. TỔ CHỨC THỰC HIÊN:

1. Các cấp uỷ ban cán sự Đảng, đảng đoàn, các sở, ban, ngành, MTTQ, các đoàn thể tỉnh thành lập ban chỉ đạo xây dựng đề án do bí thư cấp uỷ, thủ trưởng sở, ngành cơ quan, các đơn vị sự nghiệp công lập làm trưởng ban để chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở cấp mình một cách quyết liệt, hiệu quả. Hoàn thành việc xây dựng đề án về “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế” của ngành, lĩnh vực, địa phương, tổ chức, đơn vị mình trong tháng 3-2014 (ngay trong nửa đầu tháng 3-2014 phản ảnh những khó khăn vướng mắc nếu có với tỉnh để kịp thời tháo gỡ), trình Ban Chỉ đạo cấp tỉnh phê duyệt đầu tháng 4-2014, ban tổ chức cấp uỷ các cấp chủ trì, phối hợp cùng với cơ quan nội vụ cùng cấp và các đơn vị có liên quan tham mưu giúp việc cho ban chỉ đạo.

2. Ban Chỉ đạo cấp trên chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc xây dựng đề án, phê duyệt đề án của cấp dưới, đồng thời trực tiếp chỉ đạo xây dựng đề án của cấp mình (cấp huyện hướng dẫn, chỉ đạo cấp xã; cấp xã hướng dẫn chỉ đạo ở cấp dưới theo thẩm quyền; các sở, ban, ngành hướng dẫn cấp phòng và tương đương).

3. Ban cán sự Đảng UBND tỉnh chỉ đạo việc đổi mới, sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế của khối cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp trực thuộc; (i1)- Sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp có cùng chức năng, xây dựng cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp; (i2)- Nghiên cứu đề xuất phương án xây dựng, kiện toàn các sở, ngành của tỉnh; chỉ đạo xây dựng đề án tinh giản bộ máy, biên chế các cơ sở y tế, giáo dục, đào tạo trong toàn tỉnh; (i3)- Hoàn thiện Đề án về vị  trí, chức danh, việc làm, cơ chế quản lý, sử dụng cán bộ công chức, viên chức theo tiêu chuẩn vị trí, chức danh.

4. Đảng đoàn HĐND tỉnh chỉ đạo: (i1)- Giám sát việc xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án; (i2)- Chỉ đạo xem xét, trình HĐND tỉnh thông qua một số cơ chế  chính sách để phục vụ việc triển khai thực hiện các đề án, đồng thời tiến hành rà soát chức năng nhiệm vụ quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế của HĐND cấp tỉnh và cấp dưới để thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế.

5. Ban Tổ chức Tỉnh uỷ chủ trì và phối hợp với các ban xây dựng Đảng, Văn phòng Tỉnh uỷ xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế” ở các cơ quan khối Đảng (kể cả các đơn vị sự nghiệp trực thuộc); tổng hợp việc xây dựng Đề án “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế khối Đảng, đoàn thể”.

6. Ban Dân vận Tỉnh uỷ chủ trì và phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh uỷ để hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế” đối với các cơ quan MTTQ và các đoàn thể nhân dân; tổng hợp xây dựng Đề án “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế khối đoàn thể nhân dân”.

7. Sau khi tập hợp đề án của các cấp, ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị Tỉnh uỷ sẽ hoàn thiện Đề án tổng thể. Trên cơ sở đó báo cáo xin ý kiến cấp trên và xem xét ban hành nghị quyết hoặc chỉ thị; kết luận hoặc kế hoạch để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện trong cả hệ thống chính trị.

8. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ xây dựng kế hoạch tuyên truyền sâu rộng nội dung  Chỉ thị này để triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở các cấp, ngành, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị của tỉnh.

9. Các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được phân công phụ trách các địa phương, Đảng uỷ trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, giám sát thực hiện Chỉ thị ở đơn vị phụ trách.

Giao Ban Tổ chức Tỉnh uỷ theo dõi, đôn đốc và thường xuyên báo cáo kết quả thực hiện Chị thị này với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

Cùng chuyên mục