Với đặc thù địa hình chia cắt mạnh, mưa phân bố không đều theo mùa và áp lực phát triển công nghiệp, đô thị, du lịch ven biển ngày càng lớn, Quảng Ninh đang đặt ra yêu cầu cao hơn trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Từ hệ thống hồ chứa, cấp nước đô thị đến điều tiết đa mục tiêu, nhiều giải pháp đang được triển khai nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài.
Quảng Ninh được đánh giá là địa phương có nguồn nước tương đối dồi dào. Trung bình mỗi năm, lượng nước sản sinh từ mưa trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 12 tỷ m³. Tổng lượng tài nguyên nước mặt từ các sông, suối đạt 8,33 tỷ m³/năm; trữ lượng tiềm năng nước dưới đất khoảng 617 triệu m³/năm.
Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung tới 85-88% vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, dòng chảy mùa cạn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, nên bài toán điều tiết và sử dụng hợp lý nguồn nước luôn được đặt ra.
Hiện toàn tỉnh có 189 hồ chứa nước, trong đó 176 hồ đang hoạt động, với tổng dung tích thiết kế 365,59 triệu m³. Nhiều hồ lớn như Yên Lập, Khe Chè, Chúc Bài Sơn, Cao Vân… giữ vai trò điều tiết quan trọng. Tính đến cuối năm 2025, tổng lượng nước trữ tại 45 hồ đạt gần 90% dung tích thiết kế; riêng hồ Khe Chè đạt 100%, hồ Yên Lập đạt trên 92%. Đây là cơ sở quan trọng giúp tỉnh chủ động nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất trong mùa khô.
Ở lĩnh vực cấp nước đô thị, toàn tỉnh có 26 nhà máy nước sử dụng nguồn nước mặt và các công trình khai thác nước dưới đất, với tổng công suất xử lý đạt hơn 254.000m³/ngày đêm. Đáng chú ý, tỷ lệ sử dụng nước mặt chiếm tới 93,59%, trong khi nước dưới đất chỉ chiếm hơn 6%. Việc ưu tiên khai thác nước mặt đã góp phần hạn chế nguy cơ suy giảm, cạn kiệt nguồn nước ngầm.
Khu vực nông thôn hiện có 271 công trình cấp nước sinh hoạt; 219 công trình đang hoạt động, phục vụ khoảng 67.900 hộ dân. Trong sản xuất nông nghiệp, 737 công trình khai thác, sử dụng nước đang vận hành, bảo đảm tưới tiêu cho hơn 33.000ha đất canh tác.
Công tác quản lý khai thác tài nguyên nước cũng được siết chặt. Toàn tỉnh hiện có 164 giấy phép tài nguyên nước còn hiệu lực; riêng năm 2025 đã cấp 48 giấy phép và ban hành 48 quyết định tiền cấp quyền khai thác. Tổng lưu lượng khai thác theo giấy phép đạt khoảng 1,55 triệu m³/ngày đêm, trong đó chủ yếu là nước mặt.
Theo bà Nguyễn Thị Nhung, Phó Trưởng phòng Tài nguyên nước - Khoáng sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh xác định bảo đảm an ninh nguồn nước là nền tảng cho phát triển bền vững. Quảng Ninh đã chủ động đầu tư hồ chứa, nâng cấp hệ thống cấp nước tập trung, tăng cường quan trắc tự động và giám sát khai thác. Khi xảy ra nguy cơ thiếu nước, tỉnh sẵn sàng điều tiết, ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất thiết yếu.
Bên cạnh thuận lợi, áp lực cũng không nhỏ. Quảng Ninh là trung tâm khai thác than, công nghiệp nặng và du lịch biển; nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh, nguy cơ ô nhiễm từ sản xuất, đô thị ven biển vẫn hiện hữu. Biến đổi khí hậu khiến diễn biến mưa, lũ, hạn hán ngày càng cực đoan; một số hồ chứa xây dựng từ lâu đã xuống cấp, cần nguồn lực lớn để nâng cấp.
Theo tính toán tại Đề án bảo đảm an ninh nguồn nước đến năm 2030, nếu không tiếp tục cải tạo, xây mới một số hồ chứa, một số khu vực như Hải Hà, Hạ Long, Vân Đồn, Quảng Yên có thể đối mặt nguy cơ thiếu nước cục bộ.
Thời gian tới, tỉnh tiếp tục tập trung các giải pháp điều tiết hài hòa nguồn nước giữa sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và phát điện; tăng cường nạo vét, giảm thất thoát; khuyến khích sử dụng tiết kiệm; đẩy mạnh giám sát khai thác tự động…
Từ thực tế cho thấy, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên nước không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà còn là yêu cầu quản trị tổng hợp, linh hoạt. Với hệ thống hồ chứa tương đối phát triển và định hướng điều hành chủ động, Quảng Ninh đang từng bước củng cố an ninh nguồn nước cho phát triển bền vững trong những năm tới.