Xử lý nước thải mỏ: Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng

Thời gian qua, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã từng bước xây dựng một hệ thống xử lý nước thải mỏ quy mô lớn, chuyên nghiệp và ngày càng hiện đại. Từ những trạm xử lý công suất nhỏ ban đầu, công nghệ và năng lực xử lý liên tục được đầu tư, nâng cấp, phù hợp với đặc điểm địa chất, điều kiện khai thác và chất lượng nước thải của từng khu vực.

bqn_tl_1788408901010-7928335809545589462-7928335809545589462-4610a228b6f5dc4fb554e248af985997.jpg
Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Công ty Than Hòn Gai, do Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV quản lý, vận hành.

Hiện nay, toàn Tập đoàn có hơn 40 trạm xử lý nước thải mỏ than với tổng công suất thiết kế trên 38.000m³/giờ. Hằng năm, các trạm này xử lý khoảng 135-150 triệu m³ nước thải mỏ, bảo đảm nước sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường trước khi xả thải. Các trạm được thiết kế và vận hành liên tục hàng ngày, hạn chế tối đa việc phải dừng toàn bộ hệ thống.

Năm 2026, công tác môi trường tiếp tục được TKV xác định là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với mục tiêu sản xuất xanh, xanh hóa môi trường khai thác mỏ và đưa công viên vào trong mỏ, nhà máy. Với đặc thù của ngành khai thác mỏ, nước thải mỏ không giống nhau ở mọi khu vực. Nước từ các đường lò hầm lò có đặc tính khác với nước từ các moong khai thác lộ thiên. Chính vì vậy, hệ thống các trạm xử lý nước thải mỏ tiếp tục được vận hành, đầu tư và nâng cao năng lực theo yêu cầu sản xuất.

Tiêu biểu như: Dự án nâng công suất Trạm xử lý nước thải +25 Thành Công do Công ty TNHH MTV Môi trường TKV đầu tư, làm nhiệm vụ xử lý nước thải cho Công ty Than Hòn Gai - TKV. Dự án được triển khai từ tháng 6/2025 và hoàn thành cuối tháng 5/2026, với tổng mức đầu tư gần 51 tỷ đồng; công nghệ được lựa chọn tại trạm là công nghệ hóa - lý, trạm có công suất 600m³/giờ, tương đương 14.400m³/ngày đêm, phục vụ xử lý nguồn nước thải phát sinh trong quá trình khai thác hầm lò tại khai trường Thành Công thuộc Công ty Than Hòn Gai - TKV.

Điểm đáng chú ý là toàn bộ dây chuyền được tổ chức theo một chuỗi xử lý liên tục. Mỗi công đoạn giải quyết một nhóm vấn đề của nước thải, hạn chế tình trạng một thiết bị hoặc một công nghệ phải gánh quá nhiều nhiệm vụ. Từ khi Trạm được vận hành và đưa vào sử dụng, khai trường khu Thành Công nói riêng và Công ty Than Hòn Gai nói chung được đảm bảo chất lượng nước sau xử lý. Môi trường sinh thái xung quanh khu vực các khai trường được đảm bảo.

Hay như Dự án nâng công suất Trạm xử lý nước thải Cọc Sáu, được triển khai từ tháng 6/2025, tổng mức đầu tư gần 129 tỷ đồng. Công suất thiết kế sau nâng cấp đạt 2.400m³/giờ, tương đương 57.600m³/ngày đêm; phục vụ xử lý nguồn nước thải phát sinh trong quá trình khai thác lộ thiên của Công ty CP Than Đèo Nai - Cọc Sáu - TKV. Đến giữa tháng 6/2026, hệ thống đã được đưa vào vận hành chạy thử, tiến tới hoàn thành toàn bộ dự án theo kế hoạch vào ngày 30/9/2026.

Việc nâng công suất Trạm xử lý nước thải Cọc Sáu là một phần trong quá trình TKV tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực xử lý nước thải tại các mỏ có quy mô sản xuất lớn. Trước đó, TKV đã triển khai nhiều dự án nâng công suất các trạm ở các vùng than nhằm đáp ứng lượng nước phát sinh ngày càng tăng.

bqn_tl_2530975-wtm-9a538fe17647b626d0f84c3aee53426d-4055.jpg
Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Trạm xử lý nước thải Núi Nhện (giai đoạn 2) của Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV.

Một điểm nổi bật trong công tác xử lý nước thải của TKV là việc lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp với đặc điểm nước thải mỏ than. Nước thải mỏ thường có tính axít do các hợp chất chứa lưu huỳnh trong than phản ứng với ôxy trong không khí sau khi khai thác, đồng thời chứa hàm lượng cao chất rắn lơ lửng, sắt và mangan. Vì vậy, các trạm xử lý nước thải được thiết kế với các công đoạn chính gồm trung hòa, keo tụ, lắng và khử mangan.

Đồng thời công tác vận hành các trạm xử lý nước thải này được vận hành giám sát qua hệ thống màn hình SCADA, các thông số vận hành được cập nhật liên tục. Lưu lượng cho biết lượng nước đi qua hệ thống, pH phản ánh hiệu quả trung hòa. Độ đục và hàm lượng chất rắn lơ lửng giúp đánh giá hiệu quả keo tụ, lắng. Các thông số liên quan đến mangan cho thấy hiệu quả của công đoạn lọc... Theo đó, từ vận hành thủ công một hệ thống xử lý nước thải, các trạm đang dần trở thành những hệ thống công nghệ giám sát SCADA có khả năng thu thập, truyền tải và phân tích dữ liệu. Đây cũng là xu hướng phù hợp với quá trình chuyển đổi số đang được TKV triển khai trong toàn Tập đoàn.

Mỗi đổi mới của TKV đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là khai thác tài nguyên nhưng không đánh đổi môi trường; duy trì sản xuất nhưng phải kiểm soát tác động; phát triển công nghiệp nhưng phải tạo dựng một vùng than xanh hơn, sạch hơn và bền vững hơn.

Trung Thành

Cùng chuyên mục